Phân bón quý 3/2026: Ure hạ nhiệt, DAP thiếu lưu huỳnh, lợi nhuận rời đỉnh quý 2

Dữ liệu thị trường xác nhận kết quả kinh doanh quý 3/2026 của ngành phân bón kém hơn quý 2/2026 và phần lớn kém cùng kỳ 2025. Giá Ure Phú Mỹ bình quân quý 3 giảm 26% so với quý 2 và 8% so với cùng kỳ, xuất khẩu Ure giảm khoảng 70% theo quý, trong khi dầu Brent cao hơn cùng kỳ 34% kéo chi phí khí. Nhóm DAP chịu cú sốc thiếu lưu huỳnh: DAP Lào Cai dừng máy, sản lượng DAP cả nước dự báo giảm 40–45% so với quý 2. Ngoại lệ so với cùng kỳ là DCM và DHB do nền quý 3/2025 thấp. Quý 4 dự kiến hồi phục nhẹ nhưng chưa đảo chiều.

FinLensMã liên quan: BFC, CSV, DCM, DDV, DGC, DHB, DPM, LAS

Báo cáo phân tích hàng hóa chuyên đề ngành phân bón · Ngày phát hành 05/10/2026 · Dữ liệu giá trong nước đến 03/10/2026, dầu Brent đến 02/10/2026, BCTC đến quý 2/2026. Bản PDF đầy đủ 9 trang được đính kèm cuối bài.

Kết luận chính

  1. So với quý 2/2026: đồng thuận. Giá Ure bình quân quý 3 giảm 25–26%, xuất khẩu Ure giảm khoảng 70% và đây là mùa thấp điểm. Quý 2 là quý lãi cao nhất trong sáu quý gần nhất của DPM (916 tỷ đồng), DCM (1.064 tỷ) và DHB (626 tỷ), nên lợi nhuận quý 3 có thể giảm rất sâu theo quý.
  2. So với quý 3/2025: đồng thuận với phần lớn doanh nghiệp, có ngoại lệ. Giá Ure thấp hơn cùng kỳ 5–8% trong khi Brent cao hơn 34%. Nhóm DAP, phốt pho, NPK (DDV, DGC, LAS, BFC) chịu chi phí lưu huỳnh, amoniac và cầu yếu. Ngoại lệ là DCM và DHB, vốn có nền quý 3/2025 rất thấp do dừng máy.
  3. Đứt gãy lưu huỳnh là có thật. DAP Lào Cai dừng máy 10/7–15/8 và từ 2/9; DAP Đình Vũ chạy công suất thấp. Giá lưu huỳnh tại Trung Quốc đạt đỉnh khoảng 11.000 NDT/tấn giữa tháng 6, nay 7.752 NDT/tấn, vẫn gấp 2,2 lần đầu tháng 11/2025.
  4. Quý 4: hồi phục nhẹ, chưa đảo chiều. Đạm Cà Mau tăng giá lệnh 1.000 đ/kg từ 1/10 và Ấn Độ mở thầu 1,7 triệu tấn, nhưng hạn ngạch xuất khẩu Ure đợt 4 của Trung Quốc (1,5–2 triệu tấn) sẽ giới hạn dư địa tăng giá.

Kiểm chứng nhận định

Nhận địnhKết luậnBằng chứng chính
Giá Ure giảm mạnh từ đỉnhĐúngUre Phú Mỹ tại Sài Gòn cao nhất 17.800–18.000 đ/kg đầu tháng 5; cuối tháng 9 còn 11.800–12.000 (giảm 29–34%). Giá lệnh Ninh Bình, Hà Bắc giảm 35% từ 17.535 xuống 11.340 đ/kg.
Nhu cầu tiêu thụ thấpĐúngTiêu thụ Ure tháng 8 giảm 35–45% so với tháng 7; tiêu thụ NPK tháng 9 dự báo giảm 33%; diện tích lúa vụ 3 ở ĐBSCL giảm 20–30%; xuất khẩu Ure quý 3 giảm 41% so với cùng kỳ.
DAP đứt gãy nguyên liệu lưu huỳnhĐúngDAP Lào Cai dừng máy 10/7–15/8 và từ 2/9; DAP Đình Vũ chạy công suất thấp; sản lượng DAP quý 3 dự báo 67–72 nghìn tấn, giảm 40–45% so với quý 2.
KQKD quý 3 kém quý 2/2026Đúng, gần như toàn ngànhQuý 2 là quý lãi cao nhất trong sáu quý gần nhất của DPM, DCM, DHB; quý 3 là mùa thấp điểm. Năm 2025, 14/16 doanh nghiệp trong mẫu có lợi nhuận quý 3 thấp hơn quý 2.
KQKD quý 3 kém quý 3/2025Đúng một phầnKhả năng cao với DDV, DGC, BFC, LAS; có thể với DPM. Ngoại lệ: DCM và DHB có nền quý 3/2025 thấp do dừng máy; CSV hưởng lợi từ giá axit sunfuric.

Bối cảnh: một năm, hai nửa

Ngày 28/2/2026, Mỹ và Israel tấn công Iran, eo Hormuz bị phong tỏa. Khoảng một phần ba lượng phân bón giao dịch đường biển của thế giới đi qua khu vực này, nên Ure hạt đục Trung Đông lên khoảng 908 USD/tấn FOB nửa cuối tháng 4; giá lệnh nhà máy trong nước lập kỷ lục 19.000–19.150 đ/kg trong tháng 5.

Nửa sau của năm đảo chiều: eo Hormuz mở lại giữa tháng 6, Trung Quốc nối lại xuất khẩu Ure theo hạn ngạch (bốn đợt, tổng 7–9 triệu tấn), giá thầu Ấn Độ hạ từ 935–959 USD/tấn CFR (tháng 4) xuống 390–394 (tháng 8). Đến quý 3, giá Ure trong nước đã thấp hơn cả cùng kỳ 2025.

Ure: giá bán quay đầu, chi phí khí vẫn cao, xuất khẩu hụt

Chỉ tiêu (bình quân quý)Q3/2025Q2/2026Q3/2026So Q2/26So Q3/25
Ure Phú Mỹ, Sài Gòn (đ/kg)13.21816.41712.129▼ −26,1%▼ −8,2%
Ure Cà Mau, Sài Gòn (đ/kg)13.71317.31813.044▼ −24,7%▼ −4,9%
Ure Ninh Bình, tại nhà máy (đ/kg)¹12.50016.07311.980▼ −25,5%▼ −4,2%
Ure kỳ hạn Trung Quốc (NDT/tấn)1.7301.8581.747▼ −6,0%▲ +1,0%
Dầu Brent (USD/thùng)68,598,991,5▼ −7,5%▲ +33,6%
Dầu FO kỳ hạn Thượng Hải (NDT/tấn)2.8423.8883.716▼ −4,4%▲ +30,7%
Xuất khẩu Ure Việt Nam (nghìn tấn)227,2448,2133,5²▼ −70,2%▼ −41,2%

¹ Quý 3/2026 là bình quân tháng 7–8. ² Gồm tháng 9 dự báo 35–40 nghìn tấn. Giá trong nước đã gồm VAT 5% ở cả hai kỳ so sánh.

Khí chiếm khoảng 70–75% giá vốn Ure và biến động cùng chiều giá dầu: DPM cho biết giá khí 6 tháng đầu năm tăng 16%, DCM cho biết giá khí cao hơn kế hoạch 27%. Trong quý 3, Brent cao hơn cùng kỳ 34% còn giá bán Ure thấp hơn 5–8%, nên chênh lệch giá bán và chi phí thu hẹp từ cả hai phía.

  • Xuất khẩu: 6 tháng đầu năm đạt 898 nghìn tấn (+103%), nhưng quý 3 chỉ còn 49 nghìn tấn (tháng 7), 47 nghìn tấn (tháng 8) và dự báo 35–40 nghìn tấn (tháng 9) khi Ure Trung Quốc quay lại thị trường.
  • Nội địa: tiêu thụ tháng 8 giảm 35–45% so với tháng 7; tháng 9 thấp hơn cùng kỳ do diện tích lúa vụ 3 ở ĐBSCL giảm 20–30%.
  • Tồn kho: cuối tháng 8 trên 100 nghìn tấn, thấp xa mức trên 500 nghìn tấn cuối quý 3/2025, là yếu tố hỗ trợ giá sang quý 4.

DAP và lưu huỳnh: cú sốc nguồn cung có thật

Nguồn cung lưu huỳnh bị cắt từ nhiều phía cùng lúc: Nga cấm xuất khẩu lưu huỳnh công nghiệp từ 1/11/2025 (gia hạn đến 31/12/2026); eo Hormuz, nơi đi qua khoảng 49% thương mại lưu huỳnh thế giới, gián đoạn trở lại từ giữa tháng 8; Trung Quốc dừng xuất khẩu axit sunfuric từ tháng 5. Giá lưu huỳnh tại cảng Trung Quốc tăng từ 3.500 NDT/tấn lên đỉnh 10.901–11.084 NDT/tấn ngày 15–16/6, nay còn 7.752 NDT/tấn (29/9).

Chỉ tiêuQ3/2025Q2/2026Q3/2026
Nhà máy DAP Lào CaiDừng ngắn, bảo dưỡng 15–23/9Hoạt động, ngừng vài ngày tháng 5Dừng 10/7–15/8, dừng lại từ 2/9 vì thiếu lưu huỳnh
Nhà máy DAP Đình Vũ (DDV)Ổn định 800–900 tấn/ngàyBảo dưỡng 10 ngày từ 1/5Công suất thấp tháng 8 và đầu tháng 9
Sản lượng DAP cả nước (nghìn tấn)—khoảng 123khoảng 67–72 (dự báo)
Nhập khẩu DAP (nghìn tấn)227,919,27,2 (tháng 7–8)
Tồn kho cuối kỳ (nghìn tấn)trên 500dưới 200khoảng 70 (cuối tháng 8)

Giá DAP neo cao nhưng không bù được chi phí. Giá lệnh DAP Đình Vũ bình quân quý 3 đạt 24.551 đ/kg (+11,4% so với quý 2), trong khi lưu huỳnh tăng 200–250% và amoniac tăng 46–150% so với cùng kỳ. Biên gộp của DDV giảm từ 21,9% (quý 3/2025) xuống khoảng 10–11% trong nửa đầu 2026. DGC cho biết chi phí sản xuất phân bón đã lên 25.000 đ/kg, cao hơn giá bán 23.000–23.500 đ/kg, nên phải giảm sản lượng. Người hưởng lợi là nhà sản xuất axit sunfuric: CSV lãi quý 2/2026 cao nhất 10 năm (134 tỷ đồng), nhưng nhà máy Tân Bình 2 dừng từ 15/8 để di dời.

NPK, Kali và sức mua nội địa

Quý 3 là mùa thấp điểm, năm nay sâu hơn vì diện tích vụ 3 giảm và khả năng chi trả của nông dân yếu sau giai đoạn giá cao. Tiêu thụ NPK tháng 9 dự báo 200 nghìn tấn (−33% so với tháng 8), sản xuất 140 nghìn tấn (−39%); nhập khẩu Kali tháng 7–8 giảm 23% so với cùng kỳ. BFC đã chịu áp lực từ quý 2: lợi nhuận giảm 65%, tồn kho 2.811 tỷ đồng (+23% so với đầu năm), dòng tiền kinh doanh 6 tháng âm 497 tỷ đồng.

Doanh nghiệp niêm yết: chiều hướng lợi nhuận quý 3/2026

Hai mốc so sánh khác nhau rất xa. Với nhóm Ure, quý 2/2026 là quý lãi cao nhất trong sáu quý, còn quý 3/2025 thuộc nhóm thấp nhất. Với nhóm DAP và phốt pho thì ngược lại.

MãLNST Q3/25 (tỷ đ)LNST Q2/26 (tỷ đ)Yếu tố chính của quý 3/2026So với Q2/26So với Q3/25
DPM238,8915,5Giá Ure −26% so với quý 2, −8% so với cùng kỳ; giá khí 6 tháng +16%; xuất khẩu giảm▼ Giảm mạnh▼ Có thể giảm (nền thấp)
DCM328,01.064,1Như DPM; giá khí +27% so với kế hoạch; bảo dưỡng từ 20/9. Nền Q3/25 thấp vì dừng máy▼ Giảm mạnh■ Đi ngang đến tăng (ngoại lệ)
DHB−95,9625,8Giá Ure miền Bắc −25% so với quý 2. Q3/25 lỗ vì dừng máy cả tháng 8/2025▼ Giảm mạnh▲ Nhiều khả năng cao hơn (ngoại lệ)
DDV221,1121,8Thiếu lưu huỳnh, amoniac đắt; giá lệnh +11% so với quý 2; xuất khẩu tháng 9 thấp▼ Giảm nhẹ đến đi ngang▼ Giảm mạnh
DGC804,4432,7Lưu huỳnh khoảng 1.300 USD/tấn, quặng phải nhập khẩu; cắt giảm sản lượng phân bón■ Khó cải thiện▼ Giảm mạnh
BFC73,351,4NPK trái vụ, tiêu thụ tháng 9 −33%; tồn kho 2.811 tỷ, lãi vay tăng▼ Giảm▼ Giảm
LAS20,113,5Sản lượng tiêu thụ thấp; supe lân cần axit từ lưu huỳnh; tồn kho trên 1.486 tỷ▼ Giảm▼ Giảm
CSV60,1134,3Giá axit cao (hưởng lợi), nhưng dừng nhà máy Tân Bình 2 từ 15/8▼ Giảm■ Chưa rõ

LNST hợp nhất. Hai cột cuối là chiều hướng dự kiến, không phải dự báo con số; ▼ giảm, ▲ tăng, ■ đi ngang hoặc chưa rõ.

Thị trường đã chiết khấu trước đỉnh lợi nhuận: DPM và DCM giảm 23–27% trong quý 2 dù lãi cao nhất nhiều quý, rồi đi ngang trong quý 3. Nhóm DAP và phốt pho tiếp tục giảm trong quý 3 (DDV −29%, LAS −13%, DGC −9%). Vì vậy, kết quả quý 3 kém của nhóm Ure phần lớn đã được dự liệu; rủi ro bất ngờ lớn hơn nằm ở nhóm DAP, phốt pho và NPK.

Triển vọng quý 4/2026: hồi phục nhẹ, chưa đảo chiều

Yếu tốDiễn biến mới nhấtTác động
Giá lệnh Đạm Cà MauTăng 1.000 đ/kg lên 13.000 đ/kg tại nhà máy từ 1/10▲ Hỗ trợ giá Ure trong nước
Đấu thầu Ấn ĐộMở thầu mua 1,7 triệu tấn Ure, đóng thầu 7/10, giao hàng trước 1/12▲ Hỗ trợ giá thế giới
Hạn ngạch xuất khẩu Ure Trung QuốcĐợt 4 khoảng 1,5–2 triệu tấn (29/9), tổng bốn đợt 7–9 triệu tấn▼ Giới hạn đà tăng giá
Lưu huỳnh và DAP7.752 NDT/tấn (29/9), giảm 30% từ đỉnh; DAP Lào Cai dự kiến chạy lại trong tháng 10▲ Sản lượng DAP phục hồi dần
Giá dầuBrent bình quân tháng 9 đạt 102,6 USD/thùng; 2/10 lên 107 USD▼ Chi phí khí quý 4 vẫn cao
Nhu cầu nội địaTháng 10 vẫn trái vụ; vụ Đông Xuân bắt đầu từ tháng 11–12■ Cải thiện từ cuối quý

Quý 4 nhiều khả năng tốt hơn quý 3 nhờ giá Ure nhích lên từ đáy, nhu cầu vụ Đông Xuân và sản lượng DAP phục hồi, nhưng nguồn cung Ure Trung Quốc dồi dào và chi phí khí neo cao khiến biên lợi nhuận khó trở lại mức quý 2/2026. Mốc cần theo dõi: kết quả đấu thầu Ấn Độ (7/10), BCTC quý 3 của doanh nghiệp (trong tháng 10), giá lệnh tháng 10 của các nhà máy đạm và tiến độ nhập lưu huỳnh của các nhà máy DAP.

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm. Đánh giá kết quả quý 3/2026 trong báo cáo là chiều hướng dự kiến dựa trên dữ liệu thị trường, không phải số liệu công bố. Tài liệu được lập từ các nguồn được cho là đáng tin cậy nhưng không bảo đảm tính đầy đủ và chính xác tuyệt đối; chỉ nhằm mục đích tham khảo, không phải lời chào mua, chào bán hay khuyến nghị đầu tư. Nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm với quyết định của mình.

Bài viết mô tả số liệu tại thời điểm viết, mang tính tham khảo, không phải khuyến nghị mua bán. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.

Xem các bài nghiên cứu khácMở trong ứng dụng FinLens