Cán cân thương mại và vốn đầu tư nước ngoài

Bảy tháng đầu 2026 Việt Nam nhập siêu 20,323.85 triệu USD, còn cùng kỳ 2025 xuất siêu 10,206.98 triệu USD. Cơ chế nằm ở tốc độ, và vốn đăng ký khác vốn thực hiện.

FinLens18 phút đọc

Bảy tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập siêu 20,323.85 triệu USD. Cùng kỳ năm 2025, Việt Nam xuất siêu 10,206.98 triệu USD. Khoảng cách giữa hai kỳ bảy tháng ấy là 30,530.83 triệu USD, tức hơn 30 tỷ USD đổi chiều trong vòng một năm.

Với một nền kinh tế đã xuất siêu liên tục nhiều năm và vừa khép lại năm 2025 với mức xuất siêu 20,053.28 triệu USD, đây là dữ kiện lớn nhất trong bộ số vĩ mô hiện có.

Bài này làm ba việc với dữ kiện đó: nói rõ cán cân thương mại đo cái gì, chỉ ra cơ chế số học tạo ra cú đảo chiều, và tách phần vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ra khỏi phần thương mại. Bài không suy ra điều gì sẽ xảy ra với tỷ giá, lãi suất hay giá cổ phiếu; lý do nằm ở mục "Cơ chế đứt ở đâu".

Số liệu trong bài chốt ngày 03/09/2026, kỳ mới nhất là bảy tháng đầu năm 2026 với số tính tới 31/07/2026. Nguồn gốc là Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan, do FinLens tổng hợp.

Cán cân hai đĩa cách điệu, một đĩa mang nhãn xuất khẩu và một đĩa mang nhãn nhập khẩu, đĩa nhập khẩu đang nặng hơn
Cán cân thương mại chỉ là một hiệu số: hàng bán ra trừ hàng mua vào trong cùng một kỳ. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Cán cân thương mại đo cái gì, và không đo cái gì

Cán cân thương mại hàng hoá là hiệu số giữa giá trị hàng hoá xuất khẩugiá trị hàng hoá nhập khẩu trong cùng một kỳ. Dương thì gọi là xuất siêu, âm thì gọi là nhập siêu. Chỉ có vậy.

Phần "không đo" quan trọng ngang phần "đo", vì đây là chỗ nhiều suy luận sai bắt đầu. Cán cân thương mại hàng hoá không bao gồm:

  • Dịch vụ: du lịch, vận tải, phí bảo hiểm, phí phần mềm.
  • Tiền người Việt ở nước ngoài gửi về, và các khoản chuyển giao một chiều khác.
  • Thu nhập đầu tư, trong đó có phần lợi nhuận doanh nghiệp có vốn nước ngoài chuyển về công ty mẹ.
  • Mọi dòng vốn: vốn đầu tư trực tiếp, vốn gián tiếp trên thị trường chứng khoán, vay và trả nợ nước ngoài.

Những dòng trên nằm ở các phần khác của cán cân thanh toán. Cán cân thương mại hàng hoá là một dòng trong bảng đó, không phải cả bảng. Ghi nhớ điều này là điều kiện cần để đọc phần cuối bài.

Thêm một lưu ý kỹ thuật: xuất khẩu ghi nhận theo giá tại cửa khẩu nước xuất, còn nhập khẩu ghi nhận theo giá đã gồm cước vận tải và bảo hiểm, nên riêng phần cước và phí bảo hiểm đã làm vế nhập khẩu dày lên một chút.

Cú đảo chiều 30.5 tỷ USD

Ba mốc đặt cạnh nhau, đơn vị triệu USD, luỹ kế từ đầu năm:

KỳXuất khẩuNhập khẩuCán cân
Cả năm 2025475,059.57455,006.29xuất siêu 20,053.28
7 tháng 2025262,462.10252,255.12xuất siêu 10,206.98
7 tháng 2026319,729.98340,053.83nhập siêu 20,323.85

Hai dòng dưới mới là phép so sánh đúng nghĩa, vì cùng độ dài kỳ và cùng phần mùa vụ. So bảy tháng 2026 với cả năm 2025 thì vô nghĩa, dù hai con số 20,053.28 và 20,323.85 tình cờ gần bằng nhau.

Không phải một tháng bất thường

Khi thấy một chỉ tiêu đảo dấu, câu hỏi đầu tiên là: đây là kết quả của một tháng dị biệt kéo cả kỳ đi, hay là trạng thái lặp lại? Cán cân luỹ kế của năm 2026 trả lời dứt khoát, đơn vị triệu USD:

Kỳ luỹ kế chốt ngàyXuất khẩu luỹ kếNhập khẩu luỹ kếCán cân luỹ kế
30/01/202643,189.6444,974.08-1,784.44
27/02/202676,392.7979,340.41-2,947.62
31/03/2026122,927.90126,569.22-3,641.32
29/04/2026169,014.62176,662.50-7,647.88
29/05/2026215,656.19229,464.26-13,808.07
30/06/2026266,513.50283,169.41-16,655.91
31/07/2026319,729.98340,053.83-20,323.85

Cột đầu ghi ngày chốt thật chứ không ghi tên tháng, vì ngày chốt của kỳ luỹ kế không phải lúc nào cũng rơi vào ngày cuối tháng: bốn trong bảy kỳ trên chốt sớm hơn vài ngày. Hệ quả là mỗi cửa sổ tính có độ dài khác nhau, điều cần nhớ trước khi trừ hai kỳ liền nhau để ra số của một tháng.

Cột cuối âm ngay từ kỳ đầu tiên và nới rộng qua từng kỳ, không kỳ nào thu hẹp lại. Một cán cân luỹ kế chỉ nới rộng về phía âm khi mọi kỳ trong đó đều nhập siêu. Đây không phải chuyện một lô hàng lớn về cảng, mà là trạng thái của cả bảy tháng.

Sơ đồ hai cột bậc thang cạnh nhau, cột xuất khẩu xuất phát cao hơn nhưng mỗi bậc thấp, cột nhập khẩu xuất phát thấp hơn nhưng mỗi bậc cao và vượt lên ở bậc cuối
Mức xuất phát nghiêng về xuất khẩu, tốc độ nghiêng về nhập khẩu. Cán cân đổi dấu khi tốc độ thắng mức. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Cơ chế nằm ở tốc độ, không nằm ở mức

Chỗ này là toàn bộ cơ chế, và nó đơn giản hơn vẻ ngoài.

Chỉ tiêu (triệu USD)7 tháng 20257 tháng 2026Thay đổi
Xuất khẩu262,462.10319,729.98+21.82%
Nhập khẩu252,255.12340,053.83+34.81%

Xuất khẩu không giảm. Nó tăng 21.82%, một mức tăng mạnh theo bất kỳ thước đo nào. Cán cân vẫn đảo dấu, chỉ vì nhập khẩu tăng 34.81%, nhanh hơn 12.99 điểm phần trăm.

Số học đáng viết ra một lần cho rõ. Đầu kỳ so sánh, xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu 10,206.98 triệu USD, tức xuất khẩu có lợi thế về mức. Chừng nào vế nhỏ hơn còn tăng nhanh hơn vế lớn hơn thì khoảng cách thu hẹp rồi đổi dấu, và đó là điều đã xảy ra trong bảy tháng đầu 2026. Lợi thế về mức chỉ trì hoãn thời điểm đổi dấu chứ không ngăn được nó, với điều kiện chênh lệch tốc độ ấy còn giữ nguyên. Bài này không giả định điều đó, và cũng không suy ra kỳ sau sẽ ra sao.

Hệ quả cho người đọc số: một tiêu đề kiểu "xuất khẩu lập kỷ lục" không mâu thuẫn gì với một tiêu đề kiểu "nhập siêu kỷ lục". Hai câu đó cùng đúng trong bảy tháng đầu 2026. Cán cân là hiệu số, nên nó nói về quan hệ giữa hai vế chứ không nói về độ lớn của vế nào.

Cú đảo chiều đến từ đâu: tách hai khu vực doanh nghiệp

Số tổng che mất một chuyện đáng kể. Tách xuất nhập khẩu theo hai khu vực doanh nghiệp, đơn vị triệu USD, luỹ kế bảy tháng:

Khu vựcCán cân 7 tháng 2025Cán cân 7 tháng 2026Thay đổi
Doanh nghiệp có vốn nước ngoài+26,009.27+7,187.47-18,821.80
Phần còn lại-15,802.29-27,511.32-11,709.03
Tổng+10,206.98-20,323.85-30,530.83

Dấu dương là xuất siêu, dấu âm là nhập siêu. Dòng "phần còn lại" được tính bằng cách lấy tổng trừ đi phần của doanh nghiệp có vốn nước ngoài, nên nó là số dư chứ không phải một chuỗi công bố riêng.

Bảng này nói ba điều mà số tổng không nói:

Một, khu vực có vốn nước ngoài vẫn xuất siêu, nhưng mức xuất siêu co lại mạnh, từ 26,009.27 xuống 7,187.47 triệu USD. Riêng phần co lại này chiếm khoảng 62% toàn bộ cú đảo chiều.

Hai, phần còn lại vốn đã nhập siêu từ trước, nay nhập siêu sâu hơn. Trạng thái không mới; cái mới là quy mô.

Ba, hai khu vực có hai hình dạng tăng trưởng khác hẳn nhau trong bảy tháng đầu 2026 so với cùng kỳ:

Xuất khẩuNhập khẩu
Doanh nghiệp có vốn nước ngoài+31.36%+47.40%
Phần còn lại-5.32%+9.61%

Mức tăng 21.82% của xuất khẩu chung trong bảy tháng đầu 2026 đến từ riêng khu vực có vốn nước ngoài, và còn hơn thế. Xuất khẩu chung tăng thêm 57,267.88 triệu USD so với cùng kỳ, trong khi riêng khu vực này tăng thêm 60,901.09 triệu USD, tức nhiều hơn cả mức tăng chung, vì phần còn lại kéo ngược lại với mức giảm 5.32%.

Điều này gắn với một đặc điểm cấu trúc lâu năm của ngoại thương Việt Nam: khu vực có vốn nước ngoài chiếm 79.78% giá trị xuất khẩu72.90% giá trị nhập khẩu trong bảy tháng đầu 2026, so với 73.99% và 66.67% cùng kỳ 2025. Đọc cán cân thương mại Việt Nam gần như là đọc hoạt động của khu vực này, và đó là cây cầu nối sang nửa sau của bài.

Sơ đồ một đường ngang làm mốc, phía trên là khối xuất siêu của khu vực có vốn nước ngoài, phía dưới là khối nhập siêu lớn hơn của phần còn lại, bên phải là khối cán cân chung nằm dưới mốc
Hai khu vực doanh nghiệp đóng góp hai chiều ngược nhau vào cùng một con số tổng. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Vốn FDI: đăng ký và thực hiện là hai con số khác nhau

FDI là chữ viết tắt quen dùng cho đầu tư trực tiếp nước ngoài: nhà đầu tư nước ngoài bỏ tiền lập hoặc mua doanh nghiệp tại Việt Nam để trực tiếp tham gia điều hành, khác với mua cổ phiếu trên sàn.

Thống kê FDI công bố hai con số, và trộn lẫn chúng là lỗi phổ biến nhất khi đọc mảng này. Đơn vị triệu USD, luỹ kế:

Chỉ tiêu7 tháng 20257 tháng 2026Cả năm 2025
Vốn đăng ký24,09038,06038,420
Vốn thực hiện13,60015,20027,620
Thực hiện trên đăng ký56.45%39.94%71.89%

Vốn đăng ký là số tiền nhà đầu tư cam kết trong hồ sơ, ghi nhận ngay khi dự án được cấp phép hoặc điều chỉnh. Vốn thực hiện là số tiền đã thực sự chuyển vào và giải ngân trong kỳ. Bảy tháng đầu 2026, đăng ký tăng 57.99% so với cùng kỳ còn thực hiện tăng 11.76%.

Vì sao tỷ lệ 39.94% không phải "tỷ lệ giải ngân"

Đây là chỗ dễ vấp nhất. Lấy 15,200 chia 38,060 ra 39.94%, rồi đọc con số đó thành "chỉ 4 trong 10 đồng cam kết đi vào thực tế" là sai, vì tử số và mẫu số không mô tả cùng một tập dự án.

  • Mẫu số là cam kết phát sinh trong bảy tháng đầu 2026. Phần lớn số này chưa kịp giải ngân đồng nào; một nhà máy cấp phép tháng 06/2026 còn phải qua giải phóng mặt bằng, thiết kế, xây dựng.
  • Tử số là tiền giải ngân trong bảy tháng đầu 2026, phần lớn thuộc các dự án đăng ký từ những năm trước.

Hai con số đi qua nhau chứ không nối tiếp nhau. Bằng chứng rõ nhất là chính tỷ lệ ấy nhảy loạn tuỳ chỗ cắt kỳ: 56.45% ở bảy tháng 2025, 71.89% ở cả năm 2025, 39.94% ở bảy tháng 2026. Một tỷ lệ đổi tới hơn 30 điểm phần trăm chỉ vì cắt kỳ khác đi thì không phải thước đo hiệu quả của bất cứ thứ gì. Muốn biết một đồng vốn đăng ký cuối cùng đi vào thực tế bao nhiêu, phải theo dõi từng nhóm dự án theo năm cấp phép qua nhiều năm.

Vốn đăng ký gồm ba thứ, không phải một

Con số đăng ký còn bị gộp thêm một tầng nữa. Đơn vị triệu USD, luỹ kế bảy tháng:

Cấu phần7 tháng 20257 tháng 2026
Đăng ký cấp mới10,034.9021,045.97
Đăng ký tăng thêm ở dự án đang có9,985.7010,430
Góp vốn, mua cổ phần4,0706,583.18
Tổng đăng ký công bố24,09038,060

Cộng ba cấu phần của bảy tháng 2026 ra 38,059.15, lệch 0.85 so với tổng công bố 38,060; kỳ 2025 lệch 0.60 theo chiều ngược lại. Đó là sai số làm tròn giữa các chuỗi, không phải lỗi đọc số.

Cấu phần thứ ba đáng chú ý riêng, vì bản thân cái tên đã gộp hai việc khác nhau. Góp vốn là nhà đầu tư nước ngoài bỏ tiền mới vào một doanh nghiệp đang hoạt động, tiền đi vào doanh nghiệp và làm tăng vốn chủ sở hữu. Mua cổ phần là mua lại phần của chủ sở hữu cũ, tiền đi vào túi người bán chứ không vào doanh nghiệp. Cả hai đều được cộng vào con số đăng ký, nhưng chỉ vế thứ nhất chắc chắn là vốn mới đi vào sản xuất, và số công bố không tách hai vế đó ra. Bảy tháng đầu 2026, cả cấu phần này là 6,583.18 triệu USD, chiếm 17.30% tổng đăng ký.

Sơ đồ một khối lớn viền nét đứt chia ba lớp mang nhãn cấp mới, tăng thêm, góp vốn mua cổ phần, nối bằng đường nét đứt qua một dải thời gian tới một khối nhỏ tô đặc mang nhãn vốn đã giải ngân
Vốn đăng ký là cam kết và gồm ba cấu phần; vốn thực hiện là tiền đã vào, và hai bên không cùng một kỳ. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Vốn FDI không phải dòng vốn ngoại trên sàn

Hai khái niệm này hay bị gọi chung là "vốn ngoại" rồi cộng dồn, dù chúng khác nhau ở gần như mọi khía cạnh.

Đầu tư trực tiếp (FDI)Đầu tư gián tiếp trên sàn
Hình thứcLập hoặc mua doanh nghiệp để trực tiếp điều hànhMua bán cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, trái phiếu
Tốc độ ra vàoChậm, gắn với tài sản cố địnhNhanh, khớp lệnh theo phiên
Nơi ghi nhậnThống kê FDI, tần suất thángThống kê giao dịch của khối ngoại, tần suất phiên

Số liệu mua bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài trên sàn thuộc nhóm thứ hai và được bàn ở bài Nâng hạng thị trường và dòng vốn ngoại. Cộng hai nhóm vào nhau để ra một con số "vốn ngoại vào Việt Nam" là đếm hai loại tiền có bản chất khác nhau bằng một đơn vị.

Cơ chế đứt ở đâu

Cơ chế mô tả ở trên chỉ đúng trong phạm vi hẹp của nó. Có ba chỗ mà suy luận đi tiếp một bước nữa là đứt.

Một, từ nhập siêu suy sang cung cầu ngoại tệ. Đây là bước nhảy phổ biến nhất và hỏng sớm nhất. Cán cân thương mại hàng hoá chỉ là một dòng trong cán cân thanh toán. Muốn nói bất cứ điều gì về ngoại tệ vào ra, phải cộng thêm cán cân dịch vụ, thu nhập đầu tư (trong đó có lợi nhuận của doanh nghiệp có vốn nước ngoài chuyển về công ty mẹ, một khoản không nhỏ với cơ cấu như của Việt Nam), chuyển tiền của người Việt ở nước ngoài, và toàn bộ các dòng vốn. Thiếu các vế đó thì mọi kết luận đều là suy đoán. Tỷ giá được bàn riêng ở bài Tỷ giá USD/VND, và bài này cố ý dừng trước ranh giới ấy.

Hai, từ nhập khẩu tăng suy sang sản xuất sắp mở rộng. Cách đọc quen thuộc là "nhập khẩu tăng vì doanh nghiệp nhập máy móc và nguyên liệu, nên xuất khẩu các kỳ sau sẽ tăng theo". Cách đọc đó có thể đúng, nhưng con số tổng không đủ để xác nhận: nó không tách được tư liệu sản xuất với hàng tiêu dùng cuối cùng, không cho biết hàng nhập về để làm hàng xuất khẩu hay hàng bán trong nước, và độ trễ giữa nhập đầu vào với xuất đầu ra thay đổi theo ngành.

Ba, từ vốn đăng ký suy sang tiền sắp vào. Đăng ký là cam kết, không phải hợp đồng có ràng buộc giải ngân theo lịch. Dự án có thể chậm, có thể thu hẹp quy mô, có thể bị rút giấy phép. Bằng chứng nằm ngay trong dữ liệu: chuỗi vốn đăng ký tăng thêm luỹ kế ghi 11,043.14 triệu USD tại 30/06/2026 rồi còn 10,430 triệu USD tại 31/07/2026. Một chuỗi cộng dồn mà tháng sau nhỏ hơn tháng trước thì không thể là phép cộng thuần tuý; hiện tượng tương tự cũng xuất hiện giữa kỳ chốt 31/10/2025 (12,110 triệu USD) và kỳ chốt 28/11/2025 (11,620 triệu USD). Đó là dấu vết của việc rà soát lại số, hoặc của các khoản vốn đăng ký bị điều chỉnh giảm, hoặc cả hai.

Số liệu vĩ mô có độ trễ và hay được điều chỉnh lại

Mọi con số trong bài là số công bố tại thời điểm chốt ngày 03/09/2026 và có thể được cơ quan thống kê sửa ở các kỳ sau, như chính chuỗi vốn đăng ký tăng thêm ở trên cho thấy. Số ngoại thương theo tháng còn có bản sơ bộ và bản chính thức lệch nhau. Đọc lại bài này sau vài quý thì hãy đối chiếu với công bố mới nhất.

Bốn thói quen đọc số ngoại thương

So cùng kỳ, không so kỳ liền trước. Ngoại thương Việt Nam có mùa vụ rõ: tháng có Tết luôn thấp vì ít ngày làm việc. Xuất khẩu luỹ kế kỳ chốt 27/02/2026 chỉ nhích thêm 33,203.15 triệu USD so với kỳ chốt 30/01/2026, thấp hơn hẳn các kỳ sau. Một phần mức thấp đó đến từ Tết, một phần đến từ chính độ dài cửa sổ: đoạn này chỉ có 28 ngày, trong khi đoạn kế tiếp, từ 27/02 tới 31/03/2026, có 32 ngày. Hai lý do ấy cộng lại đủ để thấy vì sao không đọc chênh lệch của một tháng đơn lẻ.

Đọc cả hai vế trước khi kết luận về cán cân. Cán cân là hiệu số, nên nó đổi dấu được mà không cần vế nào giảm.

Xem con số thuộc khu vực nào. Với tỷ trọng 79.78% giá trị xuất khẩu trong bảy tháng đầu 2026, so với 73.99% cùng kỳ 2025, khu vực có vốn nước ngoài chi phối số tổng tới mức một thay đổi ở riêng khu vực này đủ để đảo dấu cả nước.

Phân biệt luỹ kế với số tháng. Hầu hết công bố ngoại thương và FDI là số luỹ kế từ đầu năm; trừ hai kỳ luỹ kế liền nhau mới ra số của một tháng. Cách các chỉ tiêu thống kê được dựng và sửa lại được bàn kỹ hơn ở bài GDP và các số liệu thống kê.

Tóm lại

Bảy tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập siêu 20,323.85 triệu USD, trong khi bảy tháng đầu năm 2025 còn xuất siêu 10,206.98 triệu USD, tức đảo chiều 30,530.83 triệu USD giữa hai kỳ cùng độ dài, và mọi kỳ luỹ kế của năm 2026 đều nhập siêu. Cơ chế là chênh lệch tốc độ: xuất khẩu tăng 21.82% còn nhập khẩu tăng 34.81%, chứ không phải xuất khẩu suy yếu. Tách theo khu vực doanh nghiệp thì khoảng 62% cú đảo chiều đến từ việc khu vực có vốn nước ngoài xuất siêu ít đi.

Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, bảy tháng đầu 2026 ghi nhận 38,060 triệu USD vốn đăng ký và 15,200 triệu USD vốn thực hiện. Hai con số trả lời hai câu hỏi khác nhau, ở hai mốc thời gian khác nhau, và tỷ lệ giữa chúng không phải thước đo hiệu quả giải ngân.

Đó là toàn bộ những gì dữ liệu hiện có nói được. Bước tiếp theo, từ các con số này sang kết luận về tỷ giá, lãi suất hay thị trường chứng khoán, cần thêm nhiều dữ kiện mà bài này không có.

Số liệu ngoại thương và FDI trong bài có nguồn gốc từ Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan, do FinLens tổng hợp, chốt ngày 03/09/2026 với kỳ mới nhất là bảy tháng đầu năm 2026. Các tỷ lệ phần trăm và phần phân rã theo khu vực doanh nghiệp do FinLens tính từ những chuỗi đó.

Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị đầu tư và không phải dự báo. Mọi quyết định đầu tư cùng rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.

Câu hỏi thường gặp

Cán cân thương mại là gì?

Cán cân thương mại hàng hoá là hiệu số giữa giá trị hàng hoá một nước bán ra nước ngoài và giá trị hàng hoá nước đó mua từ nước ngoài trong cùng một kỳ. Số dương gọi là xuất siêu, số âm gọi là nhập siêu. Nó chỉ tính hàng hoá đi qua cửa khẩu, không tính dịch vụ như du lịch hay vận tải, không tính tiền người Việt ở nước ngoài gửi về, và không tính các dòng vốn.

Việt Nam đang xuất siêu hay nhập siêu?

Tuỳ kỳ. Cả năm 2025 Việt Nam xuất siêu 20,053.28 triệu USD. Bảy tháng đầu năm 2026, tính tới hết tháng 07/2026, Việt Nam nhập siêu 20,323.85 triệu USD, trong khi bảy tháng đầu năm 2025 còn xuất siêu 10,206.98 triệu USD. Cán cân luỹ kế của năm 2026 âm ngay từ tháng đầu tiên và nới rộng qua từng tháng, nên đây không phải kết quả của một tháng bất thường.

Vốn FDI đăng ký khác vốn FDI thực hiện thế nào?

Vốn đăng ký là số tiền nhà đầu tư nước ngoài cam kết trong hồ sơ dự án, ghi nhận ngay tại thời điểm được cấp phép hoặc điều chỉnh. Vốn thực hiện là số tiền đã thực sự chuyển vào và giải ngân trong kỳ. Một dự án đăng ký hôm nay có thể giải ngân rải trong nhiều năm sau, nên hai con số của cùng một kỳ không mô tả cùng một dòng tiền. Bảy tháng đầu 2026, vốn đăng ký luỹ kế là 38,060 triệu USD còn vốn thực hiện luỹ kế là 15,200 triệu USD.

Tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký 39.94% có phải là tỷ lệ giải ngân không?

Không. Đó chỉ là phép chia hai con số của cùng bảy tháng đầu 2026, mà tử số phần lớn đến từ những dự án đăng ký ở các năm trước còn mẫu số là cam kết mới chưa kịp giải ngân. Muốn biết một đồng vốn đăng ký cuối cùng đi vào thực tế bao nhiêu thì phải theo dõi từng nhóm dự án qua nhiều năm, chứ không lấy tỷ lệ trong cùng một kỳ. Để so sánh, tỷ lệ này của cả năm 2025 là 71.89% và của bảy tháng đầu 2025 là 56.45%, chênh nhau chỉ vì thời điểm cắt kỳ.

Nhập siêu có phải là điều xấu không?

Bản thân con số không mang sẵn đánh giá tốt hay xấu. Nó là một hiệu số kế toán, và ý nghĩa của nó phụ thuộc vào cấu phần bên trong cùng các dòng còn lại của cán cân thanh toán, những thứ mà một mình cán cân thương mại hàng hoá không cho biết. Suy trực tiếp từ nhập siêu sang kết luận về tỷ giá, lãi suất hay giá cổ phiếu là bỏ qua nhiều mắt xích, và bài này cố ý không làm điều đó.

Cập nhật lần cuối:

Đọc tiếp

Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.