Các loại quỹ đầu tư tại Việt Nam

Quỹ mở, quỹ đóng, ETF và quỹ thành viên khác nhau ở cơ chế mua bán và thanh khoản, và vì sao danh sách quỹ lớn nhất không trùng với danh sách quỹ bạn mua được.

FinLens17 phút đọc

Trong dữ liệu quỹ đầu tư chốt ngày 04/09/2026185 quỹ. Tám quỹ lớn nhất theo tài sản quản lý xếp như sau:

LoạiCấu trúc danh mụcTài sản (tỷ đ)
Quỹ đóngCổ phiếu45,598
Quỹ đóngCổ phiếu29,658
Quỹ mởCổ phiếu22,193
Quỹ mởCổ phiếu19,209
ETFCổ phiếu13,441
ETFCổ phiếu12,113
ETFCổ phiếu10,804
ETFCổ phiếu10,371

Bảng này cố ý không có cột tên quỹ, và bài này cũng không nêu tên công ty quản lý nào. Điều đáng rút ra ở đây là cấu trúc, không phải danh tính, và cấu trúc thì đọc được đầy đủ từ hai cột còn lại.

Có một dữ kiện nằm sau bảng trên mà người mới ít khi được nói cho biết: những quỹ đầu tư vào Việt Nam có quy mô lớn nhất đều do tổ chức nước ngoài lập và niêm yết ở nước ngoài, không phải quỹ mở trong nước mà một nhà đầu tư cá nhân Việt Nam mở tài khoản là mua được. Nói gọn lại: danh sách "quỹ lớn nhất" và danh sách "quỹ bạn mua được" là hai danh sách khác nhau. Đọc một bảng xếp hạng quy mô rồi tưởng đó là thực đơn của mình là hiểu sai ngay từ bước đầu.

Bài này viết cho người vừa nghe tới hai chữ "chứng chỉ quỹ" và muốn biết bốn loại quỹ đang tồn tại ở Việt Nam khác nhau ở đâu. Trục phân loại của bài không phải quỹ đó bỏ tiền vào cổ phiếu hay trái phiếu, mà là cơ chế mua bán và thanh khoản: bạn giao dịch với ai, theo giá nào, và muốn ra thì ra bằng cách gì.

Số liệu trong bài chốt ngày 04/09/2026. Nguồn: HOSE, UBCKNN, FinLens tổng hợp. Nội dung mang tính chia sẻ kiến thức về cơ chế vận hành của một loại sản phẩm tài chính, không phải khuyến nghị đầu tư.

Bốn khối xếp cạnh nhau đại diện cho quỹ mở, quỹ đóng, ETF và quỹ thành viên, mỗi khối có một mũi tên mô tả nơi nhà đầu tư mua bán chứng chỉ quỹ là chính quỹ hay là nhà đầu tư khác trên sàn

Bốn loại quỹ tại Việt Nam, phân biệt theo nơi diễn ra giao dịch chứng chỉ quỹ. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Một quỹ đầu tư thực chất là gì

Quỹ đầu tư là một khối tài sản chung do nhiều người góp vào, được một công ty quản lý quỹ điều hành theo một mục tiêu ghi sẵn trong điều lệ, và được một ngân hàng giám sát giữ hộ tài sản.

Ba vai trò trong câu trên là ba pháp nhân khác nhau, và việc chúng tách rời không phải chi tiết kỹ thuật. Công ty quản lý quyết định mua bán gì. Ngân hàng giám sát giữ tài sản và kiểm tra rằng mỗi lệnh của công ty quản lý đúng với điều lệ. Người góp vốn không nắm trực tiếp cổ phiếu hay trái phiếu trong danh mục, mà nắm chứng chỉ quỹ, tức phần sở hữu tỷ lệ trong khối tài sản chung đó.

Từ đây sinh ra con số quan trọng nhất của mọi loại quỹ: giá trị tài sản ròng, thường viết tắt là NAV. Lấy toàn bộ tài sản quỹ đang nắm, trừ đi các khoản phải trả, ra giá trị tài sản ròng của cả quỹ. Chia cho số chứng chỉ quỹ đang lưu hành, ra giá trị tài sản ròng một đơn vị. Đó là giá trị "thật" của một chứng chỉ quỹ tại thời điểm tính.

Chú ý cách nói ở trên: giá trị tài sản ròng là một phép tính, không phải một mức giá được thoả thuận. Sự khác nhau giữa bốn loại quỹ nằm ở chỗ con số tính ra đó có phải là giá bạn thật sự mua bán được hay không.

Về mặt các bên tham gia thị trường, quỹ đầu tư là một dạng nhà đầu tư tổ chức. Bức tranh đầy đủ về việc ai đang có mặt trên thị trường chứng khoán Việt Nam nằm ở bài Thị trường chứng khoán Việt Nam gồm những ai.

Quỹ mở: bạn giao dịch với chính quỹ

Ở quỹ mở, số chứng chỉ quỹ đang lưu hành không cố định. Có người mua thì quỹ phát hành thêm; có người bán thì quỹ mua lại rồi huỷ đi. Bên đối ứng của bạn luôn là chính quỹ, không phải một nhà đầu tư nào khác.

Hệ quả trực tiếp: giá giao dịch chính là giá trị tài sản ròng một đơn vị của kỳ giao dịch, cộng hoặc trừ phí theo biểu phí của quỹ. Không có chuyện cung cầu đẩy giá chứng chỉ quỹ mở lên cao hơn hay xuống thấp hơn giá trị tài sản ròng, vì không có ai ở phía bên kia để đẩy.

Đổi lại, thanh khoản của quỹ mở đi theo lịch chứ không theo phút:

  • Lệnh mua và lệnh bán được đặt trước một hạn chót, rồi mới khớp vào kỳ giao dịch do điều lệ quỹ quy định. Tần suất kỳ giao dịch khác nhau giữa các quỹ, có quỹ vài phiên một tuần, có quỹ dày hơn.
  • Bạn đặt lệnh khi chưa biết giá. Giá trị tài sản ròng của kỳ được tính sau khi thị trường đóng cửa, nên lúc bấm nút bạn chỉ biết số tiền hoặc số đơn vị, không biết mức giá sẽ khớp.
  • Tiền bán về tài khoản sau một số ngày làm việc, không phải ngay lập tức.

Đây là loại quỹ mà nhà đầu tư cá nhân Việt Nam tiếp cận dễ nhất, thường qua đại lý phân phối của quỹ hoặc qua ứng dụng của công ty chứng khoán. Cũng vì vậy mà quỹ mở là loại có nhiều người hiểu nhầm nhất về phí, vì phí ở đây trừ thẳng vào giá trị tài sản ròng chứ không hiện ra thành một dòng riêng trong sao kê. Phần số học của chuyện đó nằm ở bài Chi phí của một quỹ.

Quỹ đóng: bạn giao dịch với nhà đầu tư khác

Ở quỹ đóng, số chứng chỉ quỹ cố định kể từ đợt phát hành ban đầu. Quỹ không phát hành thêm theo nhu cầu mua, và cũng không mua lại theo nhu cầu bán.

Muốn thoát, bạn phải tìm một người khác chịu mua lại chứng chỉ của mình, thường là qua sàn nếu chứng chỉ quỹ có niêm yết. Bên đối ứng của bạn là một nhà đầu tư, không phải quỹ.

Đây là chỗ khác biệt then chốt và cũng là chỗ dễ gây bất ngờ nhất:

Giá trên sàn và giá trị tài sản ròng là hai con số độc lập. Giá trị tài sản ròng vẫn được tính đều đặn theo quy định, nhưng nó không ràng buộc mức giá mà hai nhà đầu tư thoả thuận với nhau. Khi giá sàn thấp hơn giá trị tài sản ròng, người ta gọi chứng chỉ quỹ đang giao dịch ở mức chiết khấu; khi cao hơn thì gọi là phụ trội.

Và khoảng chênh đó có thể kéo dài. Ở một quỹ mở, chênh lệch không tồn tại vì cơ chế không cho phép. Ở một quỹ ETF, có một cơ chế riêng liên tục kéo giá về sát giá trị tài sản ròng, sẽ nói ở mục dưới. Ở quỹ đóng thì không có cơ chế nào cả. Khoảng chênh chỉ khép lại khi cung cầu trên sàn tự thay đổi, và điều đó có thể mất nhiều tháng, hoặc không xảy ra trong suốt thời gian bạn muốn nắm giữ.

Bù lại, quỹ đóng có một lợi thế thật về phía nhà quản lý: vì không bị rút vốn đột ngột, công ty quản lý không buộc phải bán tài sản đúng lúc thị trường xấu để trả tiền cho người rút. Cấu trúc này hợp với những danh mục khó bán nhanh hơn là cấu trúc mở.

Hai câu hỏi khác nhau về một quỹ đóng

Với quỹ mở, câu hỏi "quỹ này làm ăn ra sao" và câu hỏi "tôi lãi lỗ bao nhiêu" gần như cùng một câu, vì bạn mua bán đúng theo giá trị tài sản ròng.

Với quỹ đóng thì đó là hai câu hỏi. Danh mục của quỹ có thể tăng giá trị trong khi chứng chỉ quỹ trên sàn vẫn đứng yên hoặc giảm, chỉ vì mức chiết khấu giãn ra. Khi đọc bất kỳ con số hiệu suất nào của một quỹ đóng, việc đầu tiên là xác định con số đó đo giá trị tài sản ròng hay đo giá thị trường.

ETF: niêm yết như quỹ đóng, nhưng có cơ chế giữ giá

ETF là quỹ hoán đổi danh mục, tên tiếng Anh là exchange traded fund. Nhìn từ phía nhà đầu tư cá nhân, ETF trông giống quỹ đóng: chứng chỉ quỹ niêm yết trên sàn, bạn mua bán qua tài khoản chứng khoán thông thường, khớp lệnh trong phiên như một mã cổ phiếu, giá nhảy liên tục chứ không chờ tới cuối ngày.

Nhưng phía sau có một điểm khác biệt quyết định. Bên cạnh thị trường thứ cấp trên sàn dành cho mọi người, ETF còn có một cửa thứ hai chỉ mở cho một nhóm tổ chức đủ điều kiện, gọi là thành viên lập quỹ. Nhóm này được phép mang một rổ chứng khoán đúng theo danh mục tham chiếu tới quỹ để đổi lấy chứng chỉ quỹ mới phát hành, hoặc làm ngược lại, mang chứng chỉ quỹ tới đổi lấy rổ chứng khoán. Đó là cơ chế tạo và huỷ lô.

Chính khả năng đổi qua đổi lại đó là thứ ép giá chứng chỉ ETF trên sàn bám sát giá trị tài sản ròng, mà không cần ai đứng ra can thiệp. Cơ chế này, cùng với chuyện nó bám sát tới mức nào và vì sao vẫn có sai lệch so với chỉ số, là nội dung của bài ETF hoạt động thế nào. Bài này không giải thích lại.

Điều cần nhớ ở đây là quan hệ giữa ba loại vừa nói:

  • Quỹ mở: không có chênh lệch giá, vì bạn giao dịch trực tiếp với quỹ theo giá trị tài sản ròng.
  • Quỹ đóng: có thể chênh lệch, và không có cơ chế nào kéo về.
  • ETF: có thể chênh lệch trong ngày, nhưng có cơ chế liên tục kéo về.

Quỹ thành viên: không dành cho cá nhân

Loại thứ tư ít được nhắc tới trên báo vì phần lớn người đọc không tiếp cận được nó.

Quỹ thành viên là quỹ chào bán riêng lẻ, không chào bán ra công chúng. Theo quy định hiện hành của pháp luật chứng khoán Việt Nam, quỹ thành viên do một số thành viên góp vốn hạn chế, tối đa 30 thành viên, và các thành viên này đều phải là pháp nhân. Chứng chỉ quỹ thành viên không niêm yết và bị hạn chế chuyển nhượng theo điều lệ.

Vì sao vẫn nên biết nó tồn tại, dù không mua được? Vì nó cho thấy trục phân loại của bài này chạy suốt: cơ chế mua bán quyết định ai được vào và ra bằng cách nào. Một quỹ mở chào bán rộng rãi ra công chúng thì phải chịu ràng buộc chặt về công bố thông tin, định giá hằng kỳ và khả năng mua lại. Một quỹ chỉ có tối đa 30 pháp nhân góp vốn thì không cần bộ máy ấy, và đổi lại người góp vốn cũng mất luôn tính thanh khoản và mất cả lớp bảo vệ đi kèm chế độ chào bán ra công chúng.

Bảng đối chiếu bốn loại

Quỹ mởQuỹ đóngETFQuỹ thành viên
Bên đối ứng khi bạn mua bánChính quỹNhà đầu tư khácNhà đầu tư khác trên sàn; tổ chức đủ điều kiện giao dịch trực tiếp với quỹThành viên khác theo điều lệ
Giá giao dịchGiá trị tài sản ròng của kỳDo cung cầu trên sànDo cung cầu trong phiênTheo thoả thuận
Giá có lệch giá trị tài sản ròng khôngKhôngCó, và có thể kéo dàiCó, nhưng có cơ chế kéo về sátKhông áp dụng theo cách này
Số chứng chỉ lưu hànhThay đổi theo nhu cầuCố địnhThay đổi qua tạo và huỷ lôCố định theo vốn góp
Thời điểm biết giá khớpSau khi kỳ giao dịch được định giáNgay khi khớp lệnhNgay khi khớp lệnhTheo thoả thuận
Cá nhân tham gia được khôngĐượcĐược, nếu có niêm yếtĐượcKhông, thành viên phải là pháp nhân

Ba cặp cột so sánh giá giao dịch với giá trị tài sản ròng ở ba loại quỹ, cặp quỹ mở hai cột bằng nhau, cặp quỹ đóng hai cột lệch xa nhau, cặp ETF hai cột lệch rất ít

Ở quỹ mở giá bằng giá trị tài sản ròng; ở quỹ đóng khoảng chênh có thể lớn và kéo dài; ở ETF có cơ chế kéo khoảng chênh về sát. Hình mang tính khái niệm, không phải đồ thị số liệu. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Đọc bảng theo chiều dọc thì thấy một điều: không có loại nào tốt hơn loại nào một cách tổng quát. Mỗi cột là một bộ đánh đổi giữa mức độ chắc chắn của giá, tốc độ ra vào, và ràng buộc mà cấu trúc đặt lên nhà quản lý.

Quay lại tám quỹ lớn nhất

Bây giờ bảng ở đầu bài đọc được rõ hơn.

Cộng riêng từng nhóm trong tám dòng đó: hai quỹ đóng cộng lại 75,256 tỷ đ, hai quỹ mở cộng lại 41,402 tỷ đ, bốn ETF cộng lại 46,729 tỷ đ. Tức là chỉ hai quỹ đóng đứng đầu bảng đã lớn hơn tổng của cả bốn ETF cộng lại.

Điều này ngược với cảm nhận thông thường của một nhà đầu tư cá nhân trong nước, vì trong đời sống hằng ngày người ta gặp quỹ mở và ETF nhiều hơn hẳn. Lý do đã nêu ở đầu bài: phần lớn quy mô lớn nhất nằm ở những quỹ do tổ chức nước ngoài lập và niêm yết ở nước ngoài.

Nên khi đọc một câu kiểu "quỹ lớn nhất đầu tư vào Việt Nam đang làm gì", hãy tự hỏi thêm một câu: quỹ đó có nằm trong tập hợp mà mình có thể mua hay không. Hai chuyện này thường bị gộp làm một, và gộp như vậy dẫn tới việc lấy hành vi của một nhóm nhà đầu tư có điều kiện tiếp cận hoàn toàn khác làm chuẩn cho quyết định của mình.

Bốn câu hỏi nên hỏi trước khi đọc bất kỳ con số nào của một quỹ

Bài này không nói quỹ nào tốt, và cũng không có ý nói quỹ là lựa chọn phù hợp hay không phù hợp với ai. Nhưng có bốn câu hỏi thuần về cơ chế, trả lời được là đọc mọi tài liệu quỹ sáng hơn nhiều:

  1. Đây là loại quỹ nào theo cơ chế mua bán? Trả lời câu này trước, vì mọi thứ còn lại phụ thuộc vào nó.
  2. Con số hiệu suất đang đo giá trị tài sản ròng hay giá thị trường? Với quỹ mở, hai cái là một. Với quỹ đóng và ETF thì không. Cách đọc một báo cáo hoạt động nằm ở bài Đọc báo cáo hoạt động của quỹ.
  3. Muốn ra thì ra bằng cách nào, và mất bao lâu? Quỹ mở ra theo kỳ giao dịch. Quỹ đóng và ETF ra bằng cách bán trên sàn, và điều đó phụ thuộc vào việc có người mua hay không.
  4. Chi phí bị trừ ở đâu? Phí quản lý trừ vào giá trị tài sản ròng nên không hiện thành dòng riêng, còn phí mua bán thì hiện. Chuyện này được tính bằng số ở bài Chi phí của một quỹ.

Một lưu ý cuối về bản chất của việc góp tiền vào quỹ: mua chứng chỉ quỹ là mua phần sở hữu trong một danh mục nhiều tài sản, nên nó thay đổi cấu trúc rủi ro chứ không xoá rủi ro. Vì sao việc nắm nhiều tài sản cùng lúc có tác dụng, và vì sao tác dụng đó yếu đi đúng lúc thị trường giảm mạnh, nằm ở bài Đa dạng hoá và tương quan. Còn chứng chỉ quỹ niêm yết mà bạn nắm được ghi nhận ở đâu thì thuộc bài Lưu ký chứng khoán và tiểu khoản.

Tóm lại

Bốn loại quỹ ở Việt Nam khác nhau ở một câu hỏi duy nhất: khi bạn mua hoặc bán chứng chỉ quỹ, bên kia là ai.

Quỹ mở, bên kia là chính quỹ, nên giá đúng bằng giá trị tài sản ròng của kỳ giao dịch và không bao giờ lệch, đổi lại bạn đặt lệnh khi chưa biết giá và ra vào theo lịch. Quỹ đóng, bên kia là một nhà đầu tư khác trên sàn, nên giá do cung cầu quyết định, có thể chiết khấu hoặc phụ trội so với giá trị tài sản ròng, và khoảng chênh đó có thể kéo dài vì không có cơ chế nào kéo nó về. ETF cũng niêm yết trên sàn, nhưng có thêm cơ chế tạo và huỷ lô ở phía sau khiến giá bám sát giá trị tài sản ròng. Quỹ thành viên chào bán riêng lẻ cho tối đa 30 thành viên là pháp nhân, cá nhân không tham gia.

Trong 185 quỹ chốt ngày 04/09/2026, tám quỹ lớn nhất theo tài sản gồm hai quỹ đóng cổ phiếu 45,598 tỷ đ và 29,658 tỷ đ, hai quỹ mở cổ phiếu 22,193 tỷ đ và 19,209 tỷ đ, bốn ETF cổ phiếu 13,441 tỷ đ, 12,113 tỷ đ, 10,804 tỷ đ và 10,371 tỷ đ. Và điều đáng nhớ nhất từ bảng đó không phải thứ hạng, mà là việc những quỹ đầu tư vào Việt Nam có quy mô lớn nhất đều do tổ chức nước ngoài lập và niêm yết ở nước ngoài. Danh sách quỹ lớn nhất và danh sách quỹ bạn mua được là hai danh sách khác nhau, và nhầm hai danh sách đó là nhầm ngay ở bước đọc số liệu.

Số liệu về số lượng quỹ và tài sản quản lý trong bài chốt ngày 04/09/2026, nguồn gốc từ HOSE và UBCKNN, do FinLens tổng hợp. Bài không nêu tên quỹ và tên công ty quản lý, vì mục đích của bài là mô tả cơ chế chứ không phải giới thiệu sản phẩm của bất kỳ tổ chức nào.

Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức về cơ chế vận hành của các loại quỹ đầu tư, không phải khuyến nghị đầu tư, không chứa dự báo và không gợi ý mua hay bán bất kỳ chứng chỉ quỹ nào. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.

Câu hỏi thường gặp

Quỹ mở và quỹ đóng khác nhau ở chỗ nào?

Khác ở chỗ bạn giao dịch với ai. Với quỹ mở, bạn mua và bán trực tiếp với chính quỹ, quỹ phát hành thêm chứng chỉ khi có người mua và mua lại chứng chỉ khi có người bán, giá là giá trị tài sản ròng một đơn vị của kỳ giao dịch. Với quỹ đóng, số chứng chỉ đã cố định từ đợt phát hành, quỹ không mua lại, nên muốn thoát bạn phải tìm một nhà đầu tư khác trên sàn và giá do cung cầu quyết định chứ không phải giá trị tài sản ròng.

Vì sao giá một chứng chỉ quỹ đóng có thể lệch khỏi giá trị tài sản ròng?

Vì không có cơ chế nào ép hai con số đó về gần nhau. Quỹ đóng không phát hành thêm khi giá lên cao hơn giá trị tài sản ròng và không mua lại khi giá xuống thấp hơn, nên khoảng chênh chỉ đóng lại khi cung cầu trên sàn tự thay đổi. Khoảng chênh này có thể tồn tại nhiều tháng. ETF thì có cơ chế tạo và huỷ lô đóng vai trò kéo giá về sát giá trị tài sản ròng, đó là khác biệt cấu trúc quan trọng nhất giữa hai loại.

Nhà đầu tư cá nhân Việt Nam mua được những loại quỹ nào?

Cá nhân mua được chứng chỉ quỹ mở qua đại lý phân phối của quỹ, mua được chứng chỉ quỹ đóng và chứng chỉ ETF đang niêm yết qua tài khoản chứng khoán thông thường. Quỹ thành viên thì không, vì loại này chào bán riêng lẻ và thành viên góp vốn phải là pháp nhân. Ngoài ra nhiều quỹ đầu tư vào Việt Nam có quy mô lớn lại do tổ chức nước ngoài lập và niêm yết ở nước ngoài, nằm ngoài danh sách mà nhà đầu tư cá nhân trong nước tiếp cận được theo cách thông thường.

Trong dữ liệu chốt 04/09/2026 có bao nhiêu quỹ?

Có 185 quỹ. Tám quỹ lớn nhất theo tài sản gồm hai quỹ đóng cổ phiếu quy mô 45,598 tỷ đ và 29,658 tỷ đ, hai quỹ mở cổ phiếu quy mô 22,193 tỷ đ và 19,209 tỷ đ, và bốn ETF cổ phiếu quy mô 13,441 tỷ đ, 12,113 tỷ đ, 10,804 tỷ đ, 10,371 tỷ đ. Nguồn: HOSE, UBCKNN, FinLens tổng hợp.

Cập nhật lần cuối:

Đọc tiếp

Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.