Các loại lệnh và khung giờ giao dịch

Bảng tra cứu từng phiên của HOSE, HNX, UPCoM và bảy loại lệnh đang dùng, kèm những chỗ bảng tra trên mạng vẫn còn ghi sai.

FinLens27 phút đọc

Đặt lệnh mua cổ phiếu không giống bấm nút mua trên một sàn thương mại điện tử. Bạn phải chọn loại lệnh, và loại lệnh quyết định điều gì xảy ra khi thị trường không có đủ người bán ở mức giá bạn muốn. Bạn cũng phải chọn thời điểm, vì trong một ngày giao dịch có những khoảng mà lệnh khớp ngay lập tức, có những khoảng mà nó nằm chờ tới cuối phiên mới biết kết quả, và có những khoảng mà loại lệnh bạn quen dùng đơn giản là không đặt được.

Bài này là bảng tra cứu cho hai thứ đó: khung giờ từng phiên của HOSE, HNX, UPCoM, và bảy loại lệnh đang dùng. Kèm theo là phần giải thích vì sao mỗi quy tắc tồn tại, vì nhớ được lý do thì không cần học thuộc bảng.

Có một lý do khác khiến bài này cần thiết. Ngày 05/05/2025, hệ thống công nghệ thông tin mới của thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào vận hành, và một số quy tắc về lệnh đã đổi. Rất nhiều bảng tra cứu trên mạng được viết trước mốc đó, chưa cập nhật lại, nên vẫn đang chỉ dẫn theo quy tắc cũ. Chỗ nào đã đổi, bài này ghi rõ đổi thế nào.

Dải thời gian của một ngày giao dịch chia thành các khối phiên nối tiếp nhau, từ phiên định kỳ mở cửa qua khớp lệnh liên tục tới phiên đóng cửa và phiên sau giờ
Một ngày giao dịch không phải một khối liền mạch mà là chuỗi các phiên có luật chơi khác nhau. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Bảng 1: khung giờ từng phiên của ba sàn

Khung giờHOSEHNXUPCoM
09:00 tới 09:15Khớp lệnh định kỳ mở cửa (ATO, LO)Khớp lệnh liên tụcKhớp lệnh liên tục
09:15 tới 11:30Khớp lệnh liên tụcKhớp lệnh liên tụcKhớp lệnh liên tục
11:30 tới 13:00Nghỉ trưaNghỉ trưaNghỉ trưa
13:00 tới 14:30Khớp lệnh liên tụcKhớp lệnh liên tụcKhớp lệnh liên tục
14:30 tới 14:45Khớp lệnh định kỳ đóng cửa (ATC, LO)Khớp lệnh định kỳ đóng cửa (ATC, LO)Khớp lệnh liên tục
14:45 tới 15:00Giao dịch thoả thuậnPhiên PLOKhớp lệnh liên tục

Ba sàn cùng mở lúc 09:00, cùng nghỉ trưa 90 phút, cùng đóng lúc 15:00. Giống nhau tới đó là hết. Ba khác biệt dưới đây là ba chỗ bị chép sai nhiều nhất, và mỗi chỗ đều dẫn tới một hậu quả thực tế.

HNX không có phiên ATO

HNX bắt đầu ngày giao dịch bằng khớp lệnh liên tục ngay từ 09:00. Không có phiên định kỳ mở cửa, nên trên sàn này không tồn tại lệnh ATO. Bảng tra cứu nào ghi ATO cho HNX là chép nhầm từ HOSE sang.

Hậu quả thực tế: trên HOSE, giá mở cửa là kết quả của một cuộc gom lệnh kéo dài 15 phút. Trên HNX, giao dịch nào khớp được đầu tiên thì đó là giá mở cửa, và nó có thể được quyết định bởi đúng một cặp lệnh nhỏ. Người muốn tham gia ngay lúc mở cửa trên HNX phải dùng lệnh LO và chấp nhận rằng mình đang giao dịch trên một sổ lệnh còn mỏng.

PLO chỉ HNX có

Phiên từ 14:45 tới 15:00 trên HNX là phiên PLO, tên đầy đủ là lệnh khớp lệnh sau giờ. HOSE không có PLO. Trên HOSE, khoảng thời gian đó dành cho giao dịch thoả thuận, tức các giao dịch mà hai bên tự đàm phán khối lượng và giá rồi đưa vào hệ thống, không đi qua sổ lệnh chung.

Đây là chỗ dễ nhầm vì hai sàn dùng chung một khung giờ cho hai việc hoàn toàn khác nhau.

UPCoM chỉ có lệnh LO, và phiên chiều dài hơn 30 phút

UPCoM không có phiên định kỳ nào cả, không mở cửa cũng không đóng cửa, nên không có ATO, không có ATC, không có PLO. Cả ngày chỉ khớp lệnh liên tục, và loại lệnh duy nhất đặt được là LO. Bù lại, phiên chiều chạy liền mạch tới 15:00, dài hơn hai sàn kia 30 phút.

Cần nhớ thêm rằng UPCoM là thị trường đăng ký giao dịch, không phải thị trường niêm yết, và biên độ dao động của nó là 15% mỗi phiên so với 7% của HOSE. Một sổ lệnh mỏng cộng với biên độ rộng gấp đôi là môi trường mà lệnh thị trường có thể khớp rất xa mức người đặt hình dung. Việc chỉ cho phép LO buộc mọi người tham gia phải nêu rõ mức giá tối đa mình chấp nhận.

Một điểm nữa riêng của UPCoM: giá tham chiếu của phiên sau không phải giá đóng cửa phiên trước như HOSE và HNX, mà là bình quân gia quyền của các lệnh lô chẵn khớp trong phiên khớp lệnh liên tục gần nhất. Chi tiết này thuộc phạm vi bài ba sàn khác nhau ở đâu, nhưng nhắc ở đây vì nó cùng một logic với việc chỉ cho phép LO: khi thanh khoản mỏng, một giao dịch đơn lẻ cuối ngày không đủ tin cậy để làm mốc cho cả phiên hôm sau.

Ba dải thời gian xếp chồng nhau đại diện cho HOSE, HNX và UPCoM, cho thấy HOSE có khối phiên mở cửa mà HNX không có, HNX có khối phiên riêng ở cuối ngày, còn UPCoM chạy liền mạch tới hết ngày
Ba sàn mở và đóng cùng giờ nhưng chia phiên khác nhau. Chỗ lệch nằm ở đầu ngày và cuối ngày.

Hai cách khớp lệnh, và vì sao cần cả hai

Trước khi tra bảng loại lệnh, cần hiểu hai cơ chế khớp lệnh, vì loại lệnh nào dùng được ở phiên nào là hệ quả trực tiếp của cơ chế đó.

Khớp lệnh liên tục

Lệnh vào sổ tới đâu, hệ thống so khớp tới đó. Có lệnh đối ứng thoả mãn về giá thì khớp ngay lập tức, không thì lệnh nằm lại chờ. Nguyên tắc so khớp là ưu tiên giá trước, ai trả giá tốt hơn cho bên kia thì được khớp trước; giá bằng nhau thì ưu tiên lệnh vào sổ sớm hơn.

Cơ chế này nhanh và dễ hiểu, nhưng có một điểm yếu: khi sổ lệnh mỏng, một lệnh khối lượng lớn có thể quét qua nhiều mức giá và tự đẩy giá đi.

Khớp lệnh định kỳ

Trong một phiên định kỳ, hệ thống không khớp gì cả trong suốt 15 phút. Nó chỉ gom lệnh. Tới hết phiên, nó tìm một mức giá duy nhất cho phép khớp được nhiều cổ phiếu nhất, rồi khớp toàn bộ ở đúng mức giá đó, bất kể từng lệnh đã đặt giá bao nhiêu.

Lấy một ví dụ giả định để thấy phép chọn giá này hoạt động ra sao. Sổ lệnh của phiên định kỳ đóng cửa một cổ phiếu HOSE, đơn vị yết giá 50 đ:

Bên muaKhối lượngBên bánKhối lượng
ATC3,000ATC2,000
LO 27,100 đ5,000LO 27,000 đ4,000
LO 27,050 đ4,000LO 27,050 đ5,000
LO 27,000 đ6,000LO 27,150 đ7,000

Lệnh ATC không nêu giá nên luôn được tính vào ở mọi mức giá đem ra xét. Người mua sẵn sàng trả từ mức đó trở lên thì tính vào cầu, người bán chấp nhận từ mức đó trở xuống thì tính vào cung:

Giá đem ra xétCầu cộng dồnCung cộng dồnKhớp được
27,000 đ18,0006,0006,000
27,050 đ12,00011,00011,000
27,100 đ8,00011,0008,000
27,150 đ3,00018,0003,000

Giá đóng cửa là 27,050 đ, vì đó là mức cho khối lượng khớp lớn nhất. Người bán đặt LO 27,000 đ vẫn bán được ở 27,050 đ, cao hơn mức mình chấp nhận. Người mua đặt LO 27,100 đ vẫn mua được ở 27,050 đ, rẻ hơn mức mình sẵn sàng trả. Đó là đặc tính của khớp lệnh định kỳ: mọi giao dịch trong phiên đều diễn ra ở cùng một giá, và không ai khớp xấu hơn mức mình đã nêu.

Vì sao đặt phiên định kỳ ở đầu và cuối ngày

Đầu ngày, tin tức của cả đêm và cả buổi sáng dồn lại chưa được phản ánh vào giá. Nếu mở cửa bằng khớp lệnh liên tục, giao dịch đầu tiên sẽ do người bấm nhanh nhất quyết định, trên một sổ lệnh gần như trống. Gom 15 phút lệnh rồi tìm một mức giá chung là cách để giá mở cửa phản ánh nhiều người hơn.

Cuối ngày thì lý do còn mạnh hơn. Giá đóng cửa không chỉ là con số cuối cùng của hôm nay, nó là giá tham chiếu của ngày mai trên HOSE và HNX, tức là mốc để tính giá trần và giá sàn cho phiên kế tiếp. Nó cũng là giá dùng để tính chỉ số, định giá danh mục quỹ và định giá tài sản bảo đảm. Một con số nhiều vai trò như vậy mà để một giao dịch nhỏ lúc 14:59 quyết định thì quá mong manh. Phiên định kỳ đóng cửa buộc giá đó phải là kết quả tổng hợp của 15 phút gom lệnh.

Đổi lại, phiên định kỳ có cái giá của nó: suốt 15 phút bạn không biết mình sẽ khớp ở giá nào, và như phần sau sẽ nói, bạn cũng không được sửa hay huỷ lệnh nữa.

Sơ đồ so sánh hai cơ chế khớp lệnh, bên trái từng cặp lệnh mua bán gặp nhau lần lượt theo thời gian, bên phải nhiều lệnh được gom vào một khối rồi cùng khớp ở một mức giá chung duy nhất
Khớp lệnh liên tục xử lý từng cặp lệnh theo thứ tự đến. Khớp lệnh định kỳ gom hết rồi chọn một giá chung.

Bảng 2: bảy loại lệnh đang dùng

LệnhTên gọiSàn dùng đượcĐặt được ở phiên nàoPhần khối lượng chưa khớp
LOLệnh giới hạnHOSE, HNX, UPCoMMọi phiên khớp lệnhNằm lại sổ lệnh tới hết ngày, trừ khi bị sửa hoặc huỷ
ATOLệnh tại giá mở cửaHOSEChỉ phiên định kỳ mở cửaTự huỷ khi hết phiên
ATCLệnh tại giá đóng cửaHOSE, HNXChỉ phiên định kỳ đóng cửaTự huỷ khi hết phiên
MTLLệnh thị trường giới hạnHOSE, HNXKhớp lệnh liên tụcChuyển thành lệnh LO và nằm lại sổ lệnh
MAKLệnh thị trường khớp và huỷHOSE, HNXKhớp lệnh liên tụcHuỷ ngay lập tức
MOKLệnh thị trường khớp toàn bộ hoặc huỷHOSE, HNXKhớp lệnh liên tụcHuỷ toàn bộ lệnh nếu không khớp hết ngay
PLOLệnh khớp lệnh sau giờHNXChỉ phiên từ 14:45 tới 15:00Huỷ khi hết phiên

Ba loại MTL, MAK, MOK gọi chung là lệnh thị trường: người đặt không nêu giá, chỉ nêu khối lượng, và chấp nhận mức giá tốt nhất mà bên đối ứng đang chào. Chúng chỉ dùng được trong phiên khớp lệnh liên tục, vì trong phiên định kỳ chưa có giá nào để lấy làm chuẩn. Cả ba đều không đặt được trên UPCoM.

LO, lệnh nêu rõ mức giá

LO là lệnh duy nhất dùng được ở mọi phiên và trên mọi sàn. Bạn nêu giá tối đa sẵn sàng trả khi mua, hoặc giá tối thiểu chấp nhận khi bán. Lệnh khớp ở mức bằng hoặc tốt hơn mức đó, phần chưa khớp nằm lại sổ lệnh và giữ nguyên hiệu lực tới hết ngày.

Giá đặt phải rơi đúng vào bội số của đơn vị yết giá. Trên HOSE, đơn vị yết giá thay đổi theo mức giá: dưới 10,000 đ thì bước 10 đ, từ 10,000 đ tới 49,950 đ thì bước 50 đ, từ 50,000 đ trở lên thì bước 100 đ. Một cổ phiếu đang ở vùng 27,000 đ chỉ đặt được các mức 27,000 đ, 27,050 đ, 27,100 đ; gõ 27,020 đ thì hệ thống từ chối. Trên HNX và UPCoM đơn giản hơn, mọi mức giá đều bước 100 đ.

ATO và ATC, hai lệnh không nêu giá trong phiên định kỳ

ATO và ATC nói với hệ thống rằng bạn chấp nhận mức giá chung của phiên định kỳ, dù nó ra bao nhiêu. Chúng chỉ tồn tại trong đúng phiên tương ứng và tự huỷ nếu không khớp, không chuyển sang phiên sau.

Hai lệnh này giải quyết một nhu cầu cụ thể: bạn muốn chắc chắn có mặt trong phiên định kỳ, chẳng hạn để khớp đúng ở giá đóng cửa, và bạn không muốn đoán trước giá đó là bao nhiêu. Đánh đổi là bạn giao toàn quyền quyết định giá cho kết quả của phiên.

MTL, MAK, MOK: khác nhau ở chỗ phần dư đi đâu

Ba loại lệnh thị trường khớp giống hệt nhau ở bước đầu tiên, quét qua các mức giá đối ứng tốt nhất cho tới khi hết khối lượng hoặc hết lệnh đối ứng. Khác biệt duy nhất, và cũng là toàn bộ ý nghĩa của chúng, nằm ở số cổ phiếu chưa khớp được xử lý thế nào.

Lấy một sổ lệnh giả định trong phiên khớp lệnh liên tục. Bên bán đang chào:

Giá chào bánKhối lượng
27,050 đ2,000
27,100 đ3,000
27,150 đ1,000

Tổng cộng chỉ có 6,000 cổ phiếu đang được chào bán. Bạn muốn mua 10,000 cổ phiếu. Cùng một sổ lệnh, năm cách đặt cho ra năm kết cục:

Cách đặtKhớp ngayGiá bình quân khớpSố còn lại và số phận của nó
LO 27,050 đ2,00027,050 đ8,000 nằm chờ trên sổ ở mức 27,050 đ
LO 27,150 đ6,00027,091.67 đ4,000 nằm chờ trên sổ ở mức 27,150 đ
MTL6,00027,091.67 đ4,000 chuyển thành LO, nằm chờ trên sổ
MAK6,00027,091.67 đ4,000 bị huỷ ngay
MOK0không cóToàn bộ 10,000 bị huỷ, không khớp cổ phiếu nào

Giá bình quân 27,091.67 đ tính từ 2,000 cổ phiếu ở 27,050 đ, 3,000 cổ phiếu ở 27,100 đ và 1,000 cổ phiếu ở 27,150 đ, tổng giá trị 162,550,000 đ chia cho 6,000 cổ phiếu.

Nhìn bảng trên dễ tưởng MTL và LO 27,150 đ là một, vì cùng khớp 6,000 cổ phiếu ở cùng mức bình quân. Khác biệt lộ ra khi sổ lệnh không đẹp như vậy. Giả sử mức chào bán thứ ba không phải 27,150 đ mà là 28,500 đ:

  • LO 27,150 đ dừng lại sau khi mua 5,000 cổ phiếu, giá bình quân 27,080 đ. Mức 28,500 đ nằm ngoài giới hạn nên lệnh không chạm tới.
  • MTL không tự nêu mức giá tối đa nào, nên mua nốt 1,000 cổ phiếu ở 28,500 đ. Giá bình quân thành 27,316.67 đ, cao hơn 0.9% so với cách trên, và riêng 1,000 cổ phiếu cuối đắt hơn mức chào đầu tiên 5.4%.

Đó là toàn bộ đánh đổi của lệnh thị trường: bạn đổi quyền kiểm soát giá lấy khả năng khớp. Trên một sổ lệnh dày, khoảng cách giữa các mức giá nhỏ nên cái giá phải trả nhỏ. Trên một sổ lệnh mỏng, khoảng cách đó có thể rất rộng.

Cần nói rõ một điều để tránh hiểu nhầm: lệnh thị trường không nêu giá, nhưng nó vẫn nằm trong biên độ của phiên. Mức xa nhất nó có thể chạm tới là giá trần khi mua và giá sàn khi bán, chứ không phải bất kỳ mức nào.

MOK là loại cực đoan nhất và cũng hay bị hiểu nhầm nhất. Nó không phải lệnh mạnh hơn, nó là lệnh kén hơn: hoặc khớp đủ toàn bộ khối lượng ngay lập tức, hoặc không khớp gì cả. Trong ví dụ trên, MOK cho kết quả bằng không, trong khi bốn cách còn lại đều mua được ít nhất 2,000 cổ phiếu.

PLO, phiên riêng của HNX

PLO đặt trong khoảng từ 14:45 tới 15:00 trên HNX, sau khi phiên định kỳ đóng cửa đã kết thúc và giá đóng cửa đã được xác định. Lệnh PLO không nêu giá, vì giá đã có sẵn: nó khớp đúng ở giá đóng cửa và khớp ngay khi có lệnh đối ứng. Hết 15:00, phần chưa khớp bị huỷ.

Nói cách khác, PLO là 15 phút cuối để những người còn muốn giao dịch ở đúng mức giá đã chốt tìm nhau. Không còn rủi ro về giá, chỉ còn rủi ro không có ai ở phía bên kia. Nếu phiên định kỳ đóng cửa không xác định được giá nào, chẳng hạn vì cả phiên không khớp được lệnh nào, thì phiên PLO cũng không có mốc để dựa vào.

Sơ đồ một lệnh đi vào sổ lệnh rồi tách làm hai phần, phần đã khớp và phần chưa khớp, trong đó phần chưa khớp rẽ theo ba nhánh có nhãn nằm lại sổ lệnh, huỷ phần dư, và huỷ toàn bộ lệnh
Điều phân biệt các loại lệnh thị trường không phải cách khớp, mà là số phận của phần khối lượng chưa khớp.

Lệnh MP không còn trên HOSE

Đây là chỗ cần đọc kỹ nếu bạn từng tra cứu về lệnh chứng khoán trước năm 2025.

Trước đây HOSE có một loại lệnh thị trường duy nhất tên là MP. Kể từ khi hệ thống công nghệ thông tin mới của thị trường chứng khoán Việt Nam vận hành ngày 05/05/2025, vai trò của MP trên HOSE do MTL đảm nhận. Hệ thống này thường được gọi tắt là KRX theo tên nhà thầu, còn tên pháp lý của nó là "Hệ thống công nghệ thông tin thị trường chứng khoán Việt Nam". Việc chuyển đổi diễn ra trên toàn thị trường cùng lúc, gồm HOSE, HNX và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC), chứ không riêng HOSE.

Rất nhiều bảng tra cứu loại lệnh trên mạng vẫn liệt kê MP cho HOSE. Đó không phải nội dung sai lúc viết ra, mà là nội dung viết trước 05/05/2025 và chưa được cập nhật. Khi tra bất kỳ bảng nào về loại lệnh, việc đầu tiên nên làm là tìm ngày cập nhật của trang đó. Bảng còn ghi MP là bảng đã cũ, và nếu chỗ đó cũ thì những mục khác trên cùng bảng cũng đáng nghi.

Vì sao lại thay một lệnh bằng một lệnh khác thay vì giữ nguyên tên? Vì cái thay đổi không chỉ là tên. Trước đây một loại lệnh thị trường phải gánh mọi tình huống, và cách xử lý phần khối lượng chưa khớp là quy tắc cố định mà người đặt không chọn được. Bộ ba MTL, MAK, MOK tách đúng lựa chọn đó ra thành ba loại lệnh riêng: giữ lại chờ tiếp, bỏ phần dư, hoặc không chấp nhận khớp thiếu. Người đặt lệnh nói rõ ý định của mình ngay từ đầu thay vì nhận một hành vi mặc định.

Bốn thay đổi khác kể từ hệ thống mới

Ngoài chuyện lệnh MP, còn bốn quy tắc đã đổi. Cả bốn đều thuộc loại chỉ lộ ra khi bạn vấp phải, nên biết trước thì đỡ mất một phiên.

ATO và ATC không còn được ưu tiên trước lệnh LO mua trần, bán sàn

Trước đây, trong phiên định kỳ, lệnh ATO và ATC được xếp trước lệnh LO đặt ở giá trần khi mua hoặc giá sàn khi bán. Quy tắc đó không còn đúng.

Hệ quả nhìn thấy được: giả sử trong phiên định kỳ đóng cửa của một cổ phiếu, chỉ có 5,000 cổ phiếu được chào bán, trong khi bên mua có hai lệnh cùng muốn mua 5,000 cổ phiếu:

  • Lệnh LO mua ở giá trần, vào sổ lúc 14:31
  • Lệnh ATC, vào sổ lúc 14:33

Theo quy tắc cũ, lệnh ATC vào sau vẫn được khớp trước. Theo quy tắc hiện hành, ATC không còn đứng trước lệnh LO mua trần, nên lợi thế của việc vào sổ sớm được giữ lại cho lệnh lúc 14:31. Thứ tự ưu tiên đầy đủ nằm trong quy chế giao dịch đang có hiệu lực của Sở, nên khi cần chính xác tới từng bước thì phải đọc bản quy chế đó.

Ý nghĩa rộng hơn của thay đổi này: ATO và ATC mất phần đặc quyền chúng từng có. Chúng vẫn là cách đơn giản để tham gia phiên định kỳ, nhưng không còn là cách chen lên đầu hàng đợi.

Không sửa, không huỷ lệnh trong phiên khớp lệnh định kỳ

Lệnh đã vào sổ trong phiên định kỳ mở cửa hoặc đóng cửa thì nằm đó tới khi phiên kết thúc. Không sửa giá, không sửa khối lượng, không huỷ.

Lý do nằm ở chính cách phiên định kỳ hoạt động. Trong 15 phút gom lệnh, hệ thống liên tục tính và công bố mức giá dự kiến khớp dựa trên các lệnh đang có. Nếu được rút lệnh vào phút chót, một người có thể đặt lệnh lớn để kéo mức giá dự kiến về phía mình, để người khác đặt theo, rồi rút lệnh của mình ra trước khi phiên đóng. Khoá lệnh lại làm cho hành vi đó bất khả thi: đã đặt là phải chịu trách nhiệm với lệnh của mình.

Với người đặt lệnh, điều này có nghĩa là quyết định phải xong trước lúc bấm gửi. Trong phiên khớp lệnh liên tục thì ngược lại, lệnh chưa khớp vẫn sửa và huỷ được bình thường.

Một lần sửa chỉ đổi giá hoặc khối lượng, không đổi cả hai

Muốn đổi cả hai thì phải làm hai lần, hoặc huỷ đi đặt lại.

Quy tắc này trông vụn vặt nhưng có lý do. Sổ lệnh là một tập hàng đợi, mỗi mức giá một hàng, và trong mỗi hàng thì xếp theo thời điểm vào sổ. Một lệnh đổi giá là một lệnh rời khỏi hàng cũ để xếp vào hàng của mức giá mới. Nếu cho phép đổi đồng thời cả giá lẫn khối lượng trong một thao tác, thao tác đó thực chất là huỷ một lệnh và tạo một lệnh khác, nhưng lại được ghi nhận như một lần sửa. Tách làm hai bước khiến hệ quả của mỗi thay đổi trở nên rõ ràng thay vì bị gộp vào nhau.

Điều đáng nhớ khi thao tác: mỗi lần chạm vào một lệnh đang chờ đều có thể ảnh hưởng tới vị trí của nó trong hàng đợi. Với một cổ phiếu thanh khoản cao, mất lượt ở một mức giá đông người đặt là đủ để lệnh không khớp trong phiên đó.

Lô lẻ tách sang bảng giá riêng

Lô chẵn là bội số của 100 cổ phiếu. Từ 1 tới 99 cổ phiếu là lô lẻ, và lô lẻ giao dịch trên bảng giá tách riêng với sổ lệnh riêng.

Hệ quả rất cụ thể: muốn bán 250 cổ phiếu, bạn phải đặt hai lệnh, một lệnh 200 cổ phiếu ở bảng lô chẵn và một lệnh 50 cổ phiếu ở bảng lô lẻ. Hai lệnh này khớp độc lập với nhau, ở hai sổ lệnh khác nhau, nên hoàn toàn có thể ra hai mức giá khác nhau trong cùng một phiên. Cũng có thể xảy ra trường hợp phần lô chẵn khớp còn phần lô lẻ nằm im cả ngày, vì bảng lô lẻ ít người tham gia hơn nhiều.

Số cổ phiếu lẻ thường xuất hiện sau các đợt chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành thêm, khi tỷ lệ chia không cho ra số tròn trăm. Đây là lý do nhiều tài khoản có những mẩu vài chục cổ phiếu nằm mãi không bán được: chúng ở một bảng giá khác.

Bài này cố ý không chốt ba con số mà các bảng tra cứu khác hay nêu, vì chúng tôi chưa đối chiếu được với quy chế giao dịch bản gốc đang có hiệu lực: khối lượng tối đa cho một lệnh (con số hay được nhắc là 500,000 cổ phiếu trên HOSE), lô lẻ có đặt được trong phiên định kỳ hay không, và mức giá chính xác mà phần dư của lệnh MTL nhận khi chuyển thành LO. Ba mục này cần tra trực tiếp từ quy chế giao dịch do HOSE và HNX công bố. Nguyên tắc chung khi tra cứu cơ chế thị trường: lấy từ văn bản của Sở giao dịch, không lấy lại từ bảng tổng hợp của bên thứ ba.

Chọn loại lệnh nào trong tình huống nào

Không có loại lệnh nào tốt hơn loại khác. Mỗi loại đảm bảo một thứ và bỏ ngỏ một thứ, nên việc chọn thực chất là chọn xem mình chấp nhận bỏ ngỏ cái gì.

Loại lệnhCái được đảm bảoCái bị bỏ ngỏ
LOGiá: không bao giờ khớp xấu hơn mức đã đặtViệc khớp: có thể không khớp, hoặc chỉ khớp một phần
MTLKhớp ngay ở các mức đối ứng tốt nhất, phần dư vẫn còn cơ hội khớp tiếpGiá: quét qua nhiều mức, không biết trước giá bình quân
MAKKhớp ngay phần khớp được, không để lại lệnh treo trên sổCả giá lẫn phần khối lượng còn lại
MOKHoặc đủ khối lượng, hoặc không giao dịch gì cảGiá, và khả năng khớp một phần
ATO, ATCCó mặt trong phiên định kỳ và khớp ở giá chung của phiênGiá: chỉ biết sau khi phiên kết thúc, và không sửa huỷ được
PLOGiá đúng bằng giá đóng cửa đã biết trướcViệc khớp: phụ thuộc hoàn toàn vào việc có đối ứng hay không

Vài đánh đổi cụ thể hơn, mô tả để tự cân nhắc chứ không phải chỉ dẫn nên làm gì:

Khi điều quan trọng là giá, không phải thời điểm. LO cho phép nêu mức trần của mình rồi chờ. Cái phải chấp nhận là lệnh có thể nằm hết ngày mà không khớp, và nếu giá đi khỏi vùng đó thì cơ hội trôi qua.

Khi điều quan trọng là khớp cho xong trong phiên. Nhóm lệnh thị trường làm việc đó, nhưng giá thực nhận phụ thuộc vào độ dày của sổ lệnh tại đúng thời điểm bấm. Với một cổ phiếu ít người mua bán, khoảng cách giữa các mức giá liền kề có thể rộng tới mức phần khối lượng cuối cùng khớp rất xa mức đầu tiên, đúng như ví dụ 28,500 đ ở trên.

Khi khối lượng lớn so với thanh khoản của cổ phiếu. Đây là tình huống mà chênh lệch giữa các loại lệnh lộ ra rõ nhất. Một lệnh lớn quét qua nhiều mức giá vừa khiến chính người đặt nhận giá xấu, vừa để lại dấu vết trên bảng giá. Chia nhỏ lệnh làm giảm tác động lên giá nhưng kéo dài thời gian thực hiện, và cũng cần tính tới việc phí và thuế tính theo giá trị giao dịch.

Khi muốn khớp đúng ở giá đóng cửa. ATC trên HOSE và HNX, hoặc PLO trên HNX sau khi giá đóng cửa đã có. Hai cách này khác nhau ở một điểm quan trọng: đặt ATC là chấp nhận một mức giá chưa biết, còn đặt PLO là chấp nhận một mức giá đã biết nhưng không chắc có người đối ứng.

Khi không muốn để lại lệnh treo. MAK và MOK không để lại gì trên sổ lệnh. Đánh đổi là mất luôn cơ hội phần dư khớp sau đó vài phút, thứ mà MTL và LO vẫn giữ được.

Một lưu ý về thời điểm, không liên quan tới loại lệnh nhưng hay bị bỏ sót: chu kỳ thanh toán tại Việt Nam là T+2, cổ phiếu và tiền về tài khoản chậm nhất 13:00 ngày T+2. Nghĩa là cổ phiếu mua hôm thứ Hai sớm nhất bán được ở phiên chiều thứ Tư, và một lệnh ATO sáng thứ Tư không dùng được cho lô cổ phiếu đó. Toàn bộ hành trình từ lúc bấm gửi tới lúc cổ phiếu về tài khoản được mô tả ở bài một lệnh mua đi qua những khâu nào.

Đọc tiếp gì

Bài này nói về việc đặt lệnh. Để đọc được kết quả của những lệnh đó trên màn hình, gồm giá tham chiếu, giá trần, giá sàn, cột dư mua và dư bán, xem bài đọc bảng giá chứng khoán. Phần biên độ, đơn vị yết giá và cách tính giá tham chiếu khác nhau ra sao giữa ba sàn nằm ở bài HOSE, HNX và UPCoM khác nhau ở đâu; bài đó cũng nói về lộ trình hợp nhất sàn đang diễn ra, thứ sẽ làm bảng khung giờ trong bài này thay đổi trong vài năm tới.

Và một thói quen nên có với mọi tài liệu tra cứu về cơ chế thị trường, kể cả bài này: kiểm ngày cập nhật trước khi tin. Quy tắc giao dịch đổi theo văn bản của cơ quan quản lý và theo hệ thống công nghệ, và như trường hợp lệnh MP đã cho thấy, một bảng tra cứu chỉ cần cũ hơn một mốc thay đổi là trở thành chỉ dẫn sai.

Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức về cơ chế giao dịch, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán và cũng không phải hướng dẫn chiến lược đặt lệnh. Các sổ lệnh và mức giá dùng trong bài đều là ví dụ giả định để minh hoạ cách vận hành, không phải dữ liệu giao dịch có thật. Quy tắc về khung giờ, loại lệnh, biên độ và đơn vị yết giá do HOSE và HNX công bố trong quy chế giao dịch của từng Sở; khi cần chính xác tới từng câu chữ, hãy đọc bản quy chế đang có hiệu lực. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Câu hỏi thường gặp

HNX có phiên khớp lệnh định kỳ mở cửa và lệnh ATO không?

Không. HNX bắt đầu ngày giao dịch bằng khớp lệnh liên tục từ 09:00, nên trên sàn này không có phiên định kỳ mở cửa và cũng không đặt được lệnh ATO. Chỉ HOSE có phiên mở cửa từ 09:00 tới 09:15. Đây là một trong những chỗ bị chép sai nhiều nhất trên các bảng tra cứu tiếng Việt.

Lệnh MP còn đặt được trên HOSE không?

Không. Kể từ khi hệ thống công nghệ thông tin mới của thị trường chứng khoán Việt Nam vận hành ngày 05/05/2025, vai trò của lệnh MP trên HOSE do lệnh MTL đảm nhận. Nhiều bảng tra cứu trên mạng vẫn liệt kê MP vì được viết trước mốc đó và chưa cập nhật lại.

Đặt lệnh ATC rồi có huỷ được không?

Không. Trong phiên khớp lệnh định kỳ, lệnh đã vào sổ thì không được sửa cũng không được huỷ. Muốn thoát khỏi một lệnh ATC thì phải quyết định trước lúc bấm gửi, vì sau đó chỉ còn cách chờ kết quả khớp.

Vì sao phiên chiều của UPCoM kéo tới 15:00 mà HOSE và HNX dừng khớp lệnh liên tục lúc 14:30?

Vì HOSE và HNX dùng khoảng 14:30 tới 14:45 cho phiên khớp lệnh định kỳ đóng cửa để xác định giá đóng cửa, còn UPCoM không có phiên định kỳ nào nên chạy khớp lệnh liên tục liền mạch tới 15:00. Hệ quả là ba sàn kết thúc cùng một khung giờ nhưng bằng ba cơ chế khác nhau.

Bán 250 cổ phiếu thì đặt một lệnh hay hai lệnh?

Hai lệnh. Lô chẵn là bội số của 100 cổ phiếu, phần từ 1 tới 99 cổ phiếu là lô lẻ và giao dịch trên bảng giá tách riêng. Số 250 phải tách thành một lệnh 200 cổ phiếu ở bảng lô chẵn và một lệnh 50 cổ phiếu ở bảng lô lẻ, hai lệnh này khớp độc lập nhau nên có thể ra hai mức giá khác nhau.

Cập nhật lần cuối:

Đọc tiếp

Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.