Chi phí thật của một giao dịch
Sáu khoản phí và thuế bám vào một lệnh mua bán, vì sao thuế 0.1% khiến bán lỗ vẫn phải nộp, và một vòng mua bán ăn mất bao nhiêu phần trăm vốn.
FinLens25 phút đọc
Người mới thường tính lãi lỗ bằng một phép trừ: giá bán trừ giá mua. Phép trừ đó bỏ qua một lớp chi phí luôn có mặt, luôn thu đủ, và không phụ thuộc chút nào vào việc lệnh đó lãi hay lỗ. Có những giao dịch giá tăng mà tài khoản vẫn hụt đi, và điều đó không phải lỗi hệ thống.
Bài này liệt kê đầy đủ các khoản phí, thuế bám vào một lệnh cổ phiếu tại Việt Nam, giải thích vì sao từng khoản được thiết kế như vậy, rồi tính ra con số mà mọi người thật sự cần biết: một vòng mua bán ăn mất bao nhiêu phần trăm vốn, và con số đó lớn lên thế nào khi số lần giao dịch trong năm tăng lên.
Toàn bộ mức phí và thuế trong bài lấy từ văn bản pháp quy, có ghi rõ căn cứ ở từng chỗ. Riêng mức phí môi giới thực tế thì bài không nêu của bất kỳ công ty chứng khoán nào: mức thu thay đổi liên tục và khác nhau giữa các nơi, nên mọi con số phí môi giới trong bài đều là mức giả định dùng để minh hoạ cách tính, và luôn được ghi rõ là giả định.

Sáu khoản bám vào một giao dịch
Bảng dưới là toàn bộ danh sách. Bốn khoản đầu bám vào hoạt động thường ngày của gần như mọi tài khoản, hai khoản cuối chỉ phát sinh trong tình huống cụ thể.
| Khoản | Mức | Phát sinh khi nào | Căn cứ |
|---|---|---|---|
| Phí môi giới | Trần 0.5% giá trị giao dịch, không còn mức sàn | Cả lệnh mua và lệnh bán | Thông tư 128/2018/TT-BTC |
| Thuế thu nhập cá nhân | 0.1% giá trị bán, khấu trừ tại nguồn | Chỉ khi bán | Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15, hiệu lực 01/07/2026 |
| Phí lưu ký | 0.27 đ mỗi cổ phiếu mỗi tháng | Hàng tháng, theo số lượng đang nắm giữ | Thông tư 101/2021/TT-BTC |
| Phí trả sở giao dịch | 0.027% giá trị giao dịch | Mỗi lệnh khớp, thường đã gộp trong phí môi giới | Thông tư 101/2021/TT-BTC |
| Thuế cổ tức tiền mặt | 5% | Khi nhận cổ tức bằng tiền | Luật Thuế thu nhập cá nhân |
| Phí chuyển quyền sở hữu ngoài hệ thống | 0.1% giá trị chuyển quyền, bên nhận chịu | Chuyển quyền không qua hệ thống giao dịch | Thông tư 101/2021/TT-BTC |
Một điểm cần nhớ ngay từ đầu, vì nó chi phối toàn bộ phần tính toán phía sau: trong sáu khoản này, chỉ có một khoản duy nhất là thuế đánh vào việc bán, và nó tính trên số tiền bán được chứ không tính trên khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua.
Phí môi giới: một cái trần, và mức sàn đã bị bỏ
Phí môi giới là khoản trả cho công ty chứng khoán vì đã nhận lệnh, chuyển lệnh vào hệ thống của sở giao dịch và quản lý tài khoản. Thu ở cả hai chiều, mua cũng thu, bán cũng thu, tính trên giá trị khớp lệnh.
Theo Thông tư 128/2018/TT-BTC, mức trần là 0.5% giá trị mỗi lần giao dịch. Điểm đáng chú ý hơn cái trần là chuyện đã xảy ra với mức sàn: trước đây quy định buộc phí môi giới không được thấp hơn 0.15%, và mức sàn đó bị bỏ từ ngày 15/02/2019.
Bỏ sàn nghĩa là phần từ 0.5% trở xuống hoàn toàn do thoả thuận trong hợp đồng mở tài khoản. Hệ quả trực tiếp là mức thu có thể khác nhau giữa các nơi, và có thể thay đổi theo từng chương trình, từng nhóm khách hàng, từng kênh đặt lệnh. Đây chính là lý do bài này không nêu mức phí của bất kỳ công ty nào: một con số cụ thể viết ra hôm nay có khả năng sai vào tháng sau.
Việc cần làm không phải là tìm bảng phí trên blog, mà là mở hợp đồng mở tài khoản và bảng biểu phí của chính nơi bạn đang mở tài khoản ra đọc, rồi đối chiếu với sao kê giao dịch xem con số thu thật có khớp không.
Khoản 0.027% trả cho sở giao dịch là chi phí nền
Bên dưới phí môi giới còn một khoản nữa: 0.027% giá trị giao dịch trả cho sở giao dịch, theo Thông tư 101/2021/TT-BTC. Khoản này thông thường không hiện thành một dòng riêng trên sao kê của nhà đầu tư mà đã nằm gộp trong phí môi giới.
Nó đáng biết vì một lý do: đó là chi phí nền của nghiệp vụ môi giới. Khi mức sàn 0.15% bị bỏ, về lý thuyết phí môi giới có thể xuống rất thấp, nhưng phần 0.027% vẫn phải trả cho sở. Nói cách khác, một mức phí môi giới công bố càng thấp thì phần chênh giữa nó và 0.027% càng phải được bù bằng nguồn thu khác. Hiểu điều này giúp đọc các chương trình miễn giảm phí một cách tỉnh táo hơn: phí không tự biến mất, nó chỉ đổi chỗ.
Thuế 0.1% đánh trên giá bán, không đánh trên lãi
Đây là phần quan trọng nhất của bài.
Thuế thu nhập cá nhân với chuyển nhượng chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch tính bằng 0.1% trên giá trị bán, khấu trừ ngay tại nguồn, căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/07/2026. Bạn không phải tự khai, tiền về tài khoản là đã trừ xong.
Chú ý mẫu số. Không phải "0.1% trên lãi", cũng không phải "0.1% trên phần chênh lệch". Là 0.1% trên số tiền bán được. Từ đó suy ra một điều nhiều người không tin cho tới khi tự nhìn thấy trên sao kê:
Bán lỗ vẫn nộp thuế.
Lấy một ví dụ đầy đủ. Giả sử mua 1,000 cổ phiếu ở giá 25,000 đ, phí môi giới giả định 0.15% mỗi chiều, sau đó phải cắt lỗ ở giá 20,000 đ.
| Bước | Tính toán | Số tiền |
|---|---|---|
| Giá trị mua | 1,000 × 25,000 đ | 25,000,000 đ |
| Phí môi giới lệnh mua | 25,000,000 × 0.15% | 37,500 đ |
| Tổng tiền bỏ ra | 25,037,500 đ | |
| Giá trị bán | 1,000 × 20,000 đ | 20,000,000 đ |
| Phí môi giới lệnh bán | 20,000,000 × 0.15% | 30,000 đ |
| Thuế thu nhập cá nhân | 20,000,000 × 0.1% | 20,000 đ |
| Thực nhận | 19,950,000 đ | |
| Lỗ thực tế | 19,950,000 − 25,037,500 | −5,087,500 đ |
Khoản lỗ 5,087,500 đ này bao gồm 20,000 đ tiền thuế thu nhập cá nhân. Nộp thuế thu nhập trong một giao dịch không hề có thu nhập. Đó không phải nhầm lẫn của hệ thống, đó chính là cách sắc thuế này được thiết kế.
Thuế suất hiệu dụng trên lãi thay đổi theo mức lãi
Vì mẫu số là giá trị bán chứ không phải lãi, cùng một mức 0.1% sẽ tương ứng với những thuế suất thực tế trên lãi rất khác nhau. Gọi mức lãi trước phí là g, thuế suất hiệu dụng trên lãi bằng 0.1% nhân với (1 + g) rồi chia cho g:
| Mức lãi trước phí | Thuế phải nộp trên ví dụ 25,000,000 đ | Thuế suất hiệu dụng trên lãi |
|---|---|---|
| 0.5% | 25,125 đ trên lãi gộp 125,000 đ | 20.10% |
| 1% | 25,250 đ trên lãi gộp 250,000 đ | 10.10% |
| 2% | 25,500 đ trên lãi gộp 500,000 đ | 5.10% |
| 5% | 26,250 đ trên lãi gộp 1,250,000 đ | 2.10% |
| 10% | 27,500 đ trên lãi gộp 2,500,000 đ | 1.10% |
| 20% | 30,000 đ trên lãi gộp 5,000,000 đ | 0.60% |
| 50% | 37,500 đ trên lãi gộp 12,500,000 đ | 0.30% |
| 100% | 50,000 đ trên lãi gộp 25,000,000 đ | 0.20% |
Bảng này cho thấy đặc tính của một sắc thuế tính trên doanh số: nó luỹ thoái theo mức lãi. Lãi càng mỏng thì phần thuế cắn vào lãi càng lớn, và khi lãi bằng không hoặc âm thì khái niệm "thuế suất trên lãi" mất nghĩa hoàn toàn, chỉ còn lại số tiền phải nộp.
Vì sao lại thiết kế như vậy
Câu hỏi tự nhiên là tại sao không đánh thuế trên lãi cho công bằng. Câu trả lời nằm ở chi phí quản lý.
Muốn đánh thuế trên lãi thì phải xác định được giá vốn của đúng số cổ phiếu vừa bán. Một người có thể mua cùng một mã ở nhiều mức giá, nhiều thời điểm, qua nhiều tài khoản ở nhiều nơi, xen kẽ với cổ tức bằng cổ phiếu và các đợt phát hành thêm làm thay đổi số lượng lẫn giá vốn bình quân. Cơ quan thuế muốn kiểm chứng con số đó thì phải dựng được lịch sử giao dịch trọn đời của từng cá nhân, và mỗi người phải quyết toán cuối năm.
Cách tính 0.1% trên giá trị bán bỏ qua toàn bộ chuyện đó. Số tiền bán được là con số duy nhất, rõ ràng, có sẵn ngay tại thời điểm khớp lệnh, và công ty chứng khoán khấu trừ hộ. Không cần biết giá vốn, không cần quyết toán, không cần đối chiếu giữa các tài khoản.
Đây là một đánh đổi có chủ ý: đổi sự công bằng lấy sự đơn giản và tính chắc chắn của việc thu. Cái giá của đánh đổi đó rơi vào hai nhóm, người bán lỗ và người giao dịch nhiều với biên lãi mỏng. Biết điều này thì ít nhất bạn tính toán được nó, thay vì ngạc nhiên khi nhìn sao kê.

Hiểu nhầm phổ biến năm 2026: mức 20% trên lãi
Trong năm 2026 xuất hiện rất nhiều nội dung nói rằng nhà đầu tư chứng khoán sẽ nộp thuế 20% trên lãi. Đây là chỗ cần phân biệt rạch ròi, vì hai đối tượng hoàn toàn khác nhau đang bị gộp làm một.
Mức 20% trên phần lãi, hoặc 2% trên giá bán trong trường hợp không xác định được giá mua, áp cho hoạt động chuyển nhượng vốn góp và cổ phần trong công ty chưa đại chúng. Đó là chuyện mua bán phần vốn ở doanh nghiệp chưa lên sàn, thường qua hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên.
Cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch và cổ phiếu đăng ký giao dịch trên UPCoM vẫn áp cách tính cũ: 0.1% trên giá trị bán.
| Đối tượng chuyển nhượng | Cách tính thuế thu nhập cá nhân |
|---|---|
| Cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch | 0.1% trên giá trị bán, khấu trừ tại nguồn |
| Cổ phiếu đăng ký giao dịch trên UPCoM | 0.1% trên giá trị bán, khấu trừ tại nguồn |
| Vốn góp, cổ phần công ty chưa đại chúng | 20% trên phần lãi, hoặc 2% trên giá bán khi không xác định được giá mua |
Nhân đây nói luôn một chi tiết thuật ngữ hay bị dùng sai và nó liên quan trực tiếp tới bảng trên: UPCoM không phải sàn niêm yết, cổ phiếu ở đó là đăng ký giao dịch. Gọi nhầm thì vô hại trong câu chuyện thường ngày, nhưng khi đọc văn bản thuế thì hai từ này dẫn tới hai nhóm quy định khác nhau.
Phần thuế với vốn góp và cổ phần chưa đại chúng nằm ngoài phạm vi bài này và có nhiều tình huống đặc thù. Nếu giao dịch của bạn thuộc nhóm đó, hãy đọc trực tiếp văn bản luật hiện hành và hỏi cơ quan thuế, đừng dựa vào một bài blog, kể cả bài này.
Phí lưu ký: khoản duy nhất không tính theo tiền
Phí lưu ký trả cho việc chứng khoán của bạn được ghi nhận và lưu giữ tập trung. Theo Thông tư 101/2021/TT-BTC, mức phí với cổ phiếu là 0.27 đ cho mỗi cổ phiếu mỗi tháng, tương đương 3.24 đ mỗi cổ phiếu mỗi năm. Với trái phiếu, mức phí là 0.18 đ mỗi trái phiếu mỗi tháng.
Điểm đặc biệt: đây là khoản duy nhất trong sáu khoản tính theo số lượng đơn vị chứng khoán, không tính theo giá trị. Hệ quả là gánh nặng tương đối của nó phụ thuộc hoàn toàn vào thị giá. Cùng một số tiền 30,000,000 đ đầu tư:
| Thị giá cổ phiếu | Số cổ phiếu mua được | Phí lưu ký một năm | Tỷ lệ trên giá trị |
|---|---|---|---|
| 3,000 đ | 10,000 | 32,400 đ | 0.1080% |
| 5,000 đ | 6,000 | 19,440 đ | 0.0648% |
| 10,000 đ | 3,000 | 9,720 đ | 0.0324% |
| 25,000 đ | 1,200 | 3,888 đ | 0.0130% |
| 50,000 đ | 600 | 1,944 đ | 0.0065% |
| 100,000 đ | 300 | 972 đ | 0.0032% |
Chênh lệch giữa dòng đầu và dòng cuối là khoảng 33 lần, dù số tiền bỏ ra y hệt nhau. Với danh mục 10,000 cổ phiếu, phí lưu ký là 2,700 đ mỗi tháng và 32,400 đ mỗi năm, con số nhỏ tuyệt đối nhưng lại là khoản duy nhất chảy đều mỗi tháng ngay cả khi bạn không giao dịch gì. Những khoản phí và thuế phía trên chỉ phát sinh khi có lệnh khớp; khoản này phát sinh vì bạn đang nắm giữ.
Với người mua rồi giữ nhiều năm, đây là chi phí duy nhất còn tích tụ theo thời gian, và nó nghiêng hẳn về phía bất lợi cho danh mục gồm nhiều cổ phiếu thị giá thấp.
Thuế cổ tức tiền mặt 5%
Khi doanh nghiệp trả cổ tức bằng tiền, khoản tiền đó chịu thuế thu nhập cá nhân 5%, khấu trừ trước khi về tài khoản.
Ví dụ: nắm 10,000 cổ phiếu, doanh nghiệp trả cổ tức tiền mặt 2,000 đ mỗi cổ phiếu.
| Bước | Số tiền |
|---|---|
| Cổ tức trước thuế | 20,000,000 đ |
| Thuế thu nhập cá nhân 5% | 1,000,000 đ |
| Thực nhận | 19,000,000 đ |
Hai điều cần lưu ý. Thứ nhất, khoản thuế này độc lập với thuế 0.1% khi bán: giữ cổ phiếu qua kỳ trả cổ tức rồi bán ra sau đó thì chịu cả hai. Thứ hai, cổ tức tiền mặt không phải là tiền từ trên trời rơi xuống: vào ngày giao dịch không hưởng quyền, giá tham chiếu của cổ phiếu được điều chỉnh tương ứng với phần cổ tức sắp chi trả. Cơ chế điều chỉnh đó là một chủ đề riêng và không thuộc phạm vi bài này.
Cổ tức trả bằng cổ phiếu có cách xử lý thuế khác với cổ tức tiền mặt, và cũng là một chủ đề riêng. Đừng suy diễn mức 5% ở trên sang trường hợp đó.
Phí chuyển quyền sở hữu ngoài hệ thống
Khoản cuối cùng chỉ phát sinh khi chứng khoán đổi chủ mà không đi qua hệ thống giao dịch của sở: cho tặng, thừa kế, chia tài sản, hoặc các trường hợp chuyển quyền sở hữu được phép thực hiện ngoài sàn.
Mức phí là 0.1% giá trị chuyển quyền theo Thông tư 101/2021/TT-BTC, và bên nhận là bên chịu.
Đây là khoản dễ bị bỏ sót nhất khi lập kế hoạch chuyển giao tài sản, đơn giản vì nó không xuất hiện trong sinh hoạt giao dịch thường ngày. Cần phân biệt rõ: đây là phí, trả cho công tác chuyển quyền, không phải thuế. Nghĩa vụ thuế trong các tình huống cho tặng hay thừa kế được điều chỉnh bởi quy định thuế riêng và cần tra cứu độc lập với con số 0.1% này.
Một vòng mua bán mất bao nhiêu phần trăm
Giờ ghép lại thành công thức. Một vòng mua bán trọn vẹn, mua rồi bán cùng số lượng, khi giá bán bằng đúng giá mua, tiêu tốn:
Chi phí một vòng = 2 × phí môi giới + 0.1%
Hai lần phí môi giới vì thu ở cả hai chiều, cộng 0.1% thuế thu ở chiều bán. Phí lưu ký bỏ ra ngoài công thức này vì nó tính theo thời gian nắm giữ chứ không theo lượt giao dịch.
Với các mức phí môi giới giả định khác nhau:
| Phí môi giới giả định mỗi chiều | Chi phí một vòng | Giá phải tăng bao nhiêu để hoà vốn |
|---|---|---|
| 0.10% | 0.30% | 0.3006% |
| 0.15% | 0.40% | 0.4010% |
| 0.20% | 0.50% | 0.5015% |
| 0.25% | 0.60% | 0.6021% |
| 0.35% | 0.80% | 0.8036% |
| 0.50% (kịch trần) | 1.10% | 1.1066% |
Cột cuối nhỉnh hơn cột giữa một chút vì phí bán và thuế bán tính trên giá bán mới, cao hơn giá mua, chứ không tính trên vốn ban đầu.
Kiểm lại bằng số cụ thể, vẫn với mức phí giả định 0.15% mỗi chiều, mua 1,000 cổ phiếu giá 25,000 đ rồi bán ra đúng giá 25,000 đ:
| Bước | Số tiền |
|---|---|
| Giá trị mua | 25,000,000 đ |
| Phí môi giới lệnh mua | 37,500 đ |
| Tổng tiền bỏ ra | 25,037,500 đ |
| Giá trị bán | 25,000,000 đ |
| Phí môi giới lệnh bán | 37,500 đ |
| Thuế thu nhập cá nhân | 25,000 đ |
| Thực nhận | 24,937,500 đ |
| Chênh lệch | −100,000 đ |
Mất 100,000 đ trên vốn 25,000,000 đ, đúng bằng 0.40%. Giá không đổi một đồng nào, tài khoản vẫn hụt.
Diễn giải theo hướng có ích hơn: 0.40% là ngưỡng mà giá phải vượt qua trước khi bạn bắt đầu có lãi thật. Mọi biến động nhỏ hơn ngưỡng đó, dù hiện lên màn hình bằng màu xanh, vẫn là lỗ sau khi thanh toán xong.

Giao dịch càng nhiều, phần bị bào mòn càng lớn
Chi phí một vòng nhìn riêng lẻ thì nhỏ. Điều đáng chú ý xảy ra khi nhân nó lên theo số vòng trong năm.
Giả sử mỗi vòng đều dùng toàn bộ vốn, giá bán bằng giá mua, và không tính phí lưu ký. Vốn còn lại sau n vòng bằng vốn ban đầu nhân với (1 − chi phí một vòng) luỹ thừa n. Phần vốn đã mất:
| Số vòng mua bán trong năm | Phí 0.10% | Phí 0.15% | Phí 0.25% | Phí 0.35% |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 0.30% | 0.40% | 0.60% | 0.80% |
| 6 | 1.79% | 2.38% | 3.55% | 4.71% |
| 12 | 3.54% | 4.70% | 6.97% | 9.19% |
| 24 | 6.96% | 9.17% | 13.45% | 17.53% |
| 52 | 14.46% | 18.81% | 26.87% | 34.14% |
| 100 | 25.95% | 33.02% | 45.22% | 55.21% |
Đọc dòng 52, tương ứng bình quân mỗi tuần một vòng: với mức phí giả định 0.15%, chi phí giao dịch một mình nó đã lấy đi 18.81% vốn trong một năm mà giá chưa cần biến động gì. Dòng 100, tương ứng khoảng hai vòng mỗi tuần, ở mức phí giả định 0.35% thì con số là 55.21%.
Ba lưu ý để không đọc quá lên:
- Bảng này giả định giá đứng yên. Trong thực tế giá lên xuống, nên hai tác động chồng lên nhau chứ không thay thế nhau.
- Bảng giả định mỗi vòng dùng trọn vốn. Ai chỉ giao dịch một phần danh mục thì chi phí tính trên phần đó.
- Chu kỳ thanh toán T+2 đặt một giới hạn vật lý lên số vòng có thể thực hiện, sẽ nói ngay dưới đây.
Điều bảng này nói không phải là "giao dịch ít thì tốt hơn". Nó nói một điều hẹp hơn và chắc chắn hơn: tần suất giao dịch là một biến số bạn kiểm soát được, và nó có giá niêm yết rõ ràng. Mỗi vòng thêm vào là một khoản chi biết trước, nên nó cần được cân với lý do cụ thể để thực hiện vòng đó.

Ba khoản không xuất hiện trên bảng kê
Ba thứ dưới đây không ai thu của bạn, không có dòng nào ghi lại, nhưng chúng làm kết quả thực tế lệch khỏi con số tính trên giấy.
Bước giá: khoảng cách tối thiểu giữa mua và bán
Giá trên sàn không chạy liên tục mà nhảy theo bước giá, và bước giá thay đổi theo mức giá. Trên HOSE, cổ phiếu dưới 10,000 đ có bước giá 10 đ; từ 10,000 đ tới 49,950 đ bước giá 50 đ; từ 50,000 đ trở lên bước giá 100 đ. HNX và UPCoM dùng bước giá 100 đ ở mọi mức giá.
Muốn mua được ngay, thường phải đặt bằng giá bán đang chờ, tức là chấp nhận vượt qua ít nhất một bước giá. Quy đổi bước giá đó ra phần trăm:
| Sàn và mức giá | Bước giá | Tỷ lệ trên giá |
|---|---|---|
| HOSE, 9,950 đ | 10 đ | 0.101% |
| HOSE, 10,000 đ | 50 đ | 0.500% |
| HOSE, 25,000 đ | 50 đ | 0.200% |
| HOSE, 49,950 đ | 50 đ | 0.100% |
| HOSE, 50,000 đ | 100 đ | 0.200% |
| HOSE, 100,000 đ | 100 đ | 0.100% |
| HNX hoặc UPCoM, 8,000 đ | 100 đ | 1.250% |
| HNX hoặc UPCoM, 30,000 đ | 100 đ | 0.333% |
Hai chi tiết đáng chú ý. Thứ nhất, tỷ lệ này nhảy vọt ngay tại ngưỡng đổi bước giá: ở 9,950 đ một bước chỉ đáng 0.101%, nhưng ở 10,000 đ một bước đã đáng 0.500%, gấp gần năm lần, chỉ vì giá vừa bước qua ngưỡng. Thứ hai, trên HNX và UPCoM với bước giá cố định 100 đ, cổ phiếu thị giá thấp có bước giá tương đối rất lớn: ở 8,000 đ, một bước đã bằng 1.250%, cao hơn cả tổng phí và thuế của một vòng mua bán tính ở mức phí môi giới kịch trần.
Đây không phải khoản ai thu, nó là độ phân giải của giá. Nhưng nó là chi phí thật khi bạn cần khớp ngay.
Lô lẻ
Lô giao dịch chuẩn là 100 cổ phiếu, phần lẻ từ 1 tới 99 cổ phiếu là lô lẻ. Từ khi hệ thống công nghệ thông tin mới vận hành, lô lẻ được giao dịch tách riêng khỏi bảng giá lô chẵn: muốn bán 250 cổ phiếu thì phải tách thành một lệnh 200 cổ phiếu và một lệnh 50 cổ phiếu.
Lô lẻ có ít người mua bán hơn nhiều, nên khoảng cách giữa giá chờ mua và giá chờ bán thường rộng hơn. Phần lẻ sinh ra chủ yếu từ cổ tức bằng cổ phiếu và các đợt phát hành thêm, tức là nó tự xuất hiện chứ không do bạn chọn. Không phải chi phí lớn, nhưng là chỗ dễ mất thêm một chút khi thoát vị thế.
Chu kỳ T+2 và chi phí cơ hội
Chu kỳ thanh toán hiện hành là T+2. Tiền và chứng khoán về tài khoản chậm nhất 13:00 ngày T+2, nên chứng khoán mua vào bán được từ phiên chiều ngày T+2. Quy định này có hiệu lực từ 29/08/2022, theo Quyết định 109/QĐ-VSD và Quyết định 110/QĐ-VSD ban hành ngày 19/08/2022, thay cho chu kỳ T+3 trước đó. Hệ thống công nghệ thông tin mới của thị trường, vận hành chính thức từ 05/05/2025, không rút ngắn chu kỳ này.
Cần nói rõ vì đây là chỗ hay bị viết sai: cách gọi dân dã "T+1.5" chỉ mô tả việc tiền về trước 13:00 ngày T+2, còn chu kỳ pháp lý vẫn là T+2.
Với chi phí giao dịch, T+2 tạo ra một ràng buộc: vốn bị khoá trong khoảng thời gian đó, không quay vòng ngay được. Đây là chi phí cơ hội, không phải khoản thu, nhưng nó đặt giới hạn cứng lên số vòng mua bán khả thi và cần được tính vào khi lập kế hoạch. Chi tiết đường đi của một lệnh từ lúc đặt tới lúc cổ phiếu về tài khoản nằm ở bài một lệnh mua đi qua những khâu nào.
Tự kiểm bằng chính bảng kê của bạn
Toàn bộ bài này chỉ có ích nếu bạn đối chiếu được với số liệu thật của tài khoản mình. Bốn bước:
Tìm mức phí môi giới thật. Mở hợp đồng mở tài khoản và biểu phí hiện hành của nơi bạn mở tài khoản. Ghi lại con số phần trăm áp cho tài khoản của bạn, và kiểm xem nó có khác nhau giữa các kênh đặt lệnh không.
Lấy một lệnh bán đã khớp làm mẫu. Trên xác nhận giao dịch hoặc sao kê, tìm ba con số: giá trị khớp, phí môi giới, thuế thu nhập cá nhân. Chia phí môi giới cho giá trị khớp, kết quả phải khớp mức phí ở bước 1. Chia tiền thuế cho giá trị khớp, kết quả phải ra 0.1%.
Tính chi phí một vòng của riêng bạn. Lấy hai lần mức phí môi giới cộng 0.1%. Đây là ngưỡng giá phải vượt qua trước khi có lãi thật, con số nên nhớ thuộc lòng.
Đếm số vòng đã thực hiện trong 12 tháng gần nhất. Nhân với chi phí một vòng, hoặc tra bảng bào mòn ở trên. Con số ra được là phần vốn đã chi cho riêng chi phí giao dịch, tách hẳn khỏi phần lãi lỗ do giá.
Bước cuối thường là bước gây ngạc nhiên nhất, vì số vòng thực tế trong năm hầu như luôn nhiều hơn số vòng người ta nhớ.
Đọc tiếp gì
Chi phí giao dịch là một trong những thứ hiếm hoi trên thị trường có thể tính chính xác trước khi đặt lệnh. Giá thì không ai biết trước, còn phí và thuế thì biết trước từng đồng. Đó là lý do nó đáng được tính kỹ.
Ba hướng đọc tiếp trong cùng chuỗi: các loại lệnh và khung giờ giao dịch giải thích cách chọn loại lệnh, thứ ảnh hưởng trực tiếp tới việc bạn có phải vượt qua bước giá hay không; ba sàn khác nhau ở đâu nói kỹ hơn về bước giá và biên độ của từng sàn; một lệnh mua đi qua những khâu nào trình bày chu kỳ thanh toán và lý do vốn bị khoá.
Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán và không phải tư vấn thuế. Mức phí, mức thuế trích từ các văn bản đã dẫn tên ở từng chỗ, do FinLens tổng hợp tới thời điểm xuất bản; mọi mức phí môi giới xuất hiện trong bài đều là giả định dùng để minh hoạ cách tính. Văn bản pháp quy có thể được sửa đổi, nên khi cần con số ràng buộc nghĩa vụ của mình, hãy tra bản hiện hành hoặc hỏi cơ quan có thẩm quyền.
Câu hỏi thường gặp
Bán lỗ có phải nộp thuế không?
Có. Thuế thu nhập cá nhân với chuyển nhượng cổ phiếu niêm yết và đăng ký giao dịch tính bằng 0.1% trên giá trị bán, không tính trên phần lãi. Vì mẫu số là số tiền bán được chứ không phải khoản chênh lệch lãi lỗ, nên một lệnh bán cắt lỗ vẫn phát sinh thuế. Bán 20,000,000 đ thì nộp 20,000 đ, bất kể mua vào ở giá nào.
Vậy còn mức 20% trên lãi mà nhiều người nhắc tới năm 2026?
Mức 20% trên phần lãi áp cho chuyển nhượng vốn góp và cổ phần trong công ty chưa đại chúng, không áp cho cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch hay đăng ký giao dịch trên UPCoM. Với cổ phiếu giao dịch trên sàn, cách tính vẫn là 0.1% trên giá trị bán. Đây là chỗ bị lẫn nhiều nhất trong năm 2026.
Một vòng mua bán tốn khoảng bao nhiêu phần trăm?
Bằng hai lần phí môi giới cộng 0.1% thuế. Với mức phí giả định 0.15% mỗi chiều, một vòng mua bán tốn 0.40% vốn khi giá không đổi, nghĩa là giá phải tăng khoảng 0.40% mới hoà vốn. Với mức phí kịch trần 0.5% mỗi chiều, con số là 1.10%.
Phí lưu ký tính thế nào?
Theo Thông tư 101/2021/TT-BTC, phí lưu ký cổ phiếu là 0.27 đ cho mỗi cổ phiếu mỗi tháng, tương đương 3.24 đ mỗi cổ phiếu mỗi năm. Đây là khoản duy nhất tính theo số lượng chứ không theo giá trị, nên cùng một số tiền đầu tư, cổ phiếu thị giá thấp chịu phí lưu ký tương đối nặng hơn nhiều lần so với cổ phiếu thị giá cao.
Phí môi giới tối đa được thu bao nhiêu?
Trần là 0.5% giá trị mỗi lần giao dịch theo Thông tư 128/2018/TT-BTC. Mức sàn 0.15% trước đây đã bị bỏ từ ngày 15/02/2019, nên phần dưới trần hoàn toàn do thoả thuận trong hợp đồng mở tài khoản, và mức thu thực tế có thể khác nhau giữa các nơi.
Cập nhật lần cuối:
Đọc tiếp
Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.