Chỉ báo RSI

RSI là một tỷ số bị ép vào thang 0 tới 100. Bài này dựng lại công thức, đo xem quá mua thật sự nói gì, và chỉ ra bốn chỗ thị trường Việt Nam làm nó lệch.

FinLens47 phút đọc

Hai người mở cùng một mã, cùng một ngày, cùng gõ RSI 14. Người thứ nhất thấy 42.14 và nói cổ phiếu đang trung tính. Người thứ hai thấy 6.25 và nói nó đang quá bán ở mức cực độ. Cả hai đều không tính sai: đây là một phiên có thật, và khoảng cách 35.89 điểm giữa hai con số là khoảng cách lớn nhất đo được trên năm mã trong hai năm. Nguyên nhân không nằm ở dữ liệu cũng không ở tham số, mà ở một lựa chọn kỹ thuật mà không phần mềm nào hỏi người dùng và phần lớn không ghi ra.

Bài này làm bốn việc: dựng lại đầy đủ công thức RSI tới mức người đọc tự tính lại được bằng bảng tính; đo bằng số xem hai chữ "quá mua" và "quá bán" thật sự mô tả cái gì; chỉ ra những chỗ thị trường Việt Nam làm RSI lệch so với thứ sách vở nước ngoài mặc định; và bày ra chỗ bằng chứng dừng lại. Bài không đưa ra tín hiệu mua bán, không dự báo giá và không nêu bộ tham số nào để dùng.

Sơ đồ cách RSI được tính: chuỗi mức tăng và chuỗi mức giảm chạy vào hai đường trung bình riêng, hai đường chia cho nhau ra một tỷ số, rồi tỷ số bị ép vào thang từ 0 tới 100

Bốn bước của RSI. Ba bước đầu là số học thuần tuý; bước cuối là một phép ép không đều. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Công thức, từng bước một

RSI có đúng một tham số là số phiên n; mọi thứ còn lại là số học.

Bước 1: tách một chuỗi giá thành hai chuỗi không âm

Gọi C(t) là giá đóng cửa phiên t và đặt D(t) = C(t) − C(t−1). Từ D(t) tách ra hai chuỗi, cả hai đều không âm:

U(t) = D(t)  nếu D(t) > 0, ngược lại U(t) = 0     (phần tăng)
L(t) = −D(t) nếu D(t) < 0, ngược lại L(t) = 0     (độ lớn phần giảm)

Phiên tăng đóng góp vào U và số 0 vào L, phiên giảm thì ngược lại, còn phiên đứng giá đóng góp số 0 vào cả hai. Điều cuối có hệ quả rất lớn ở thị trường Việt Nam.

Chú ý ngay từ đây: chỉ báo đọc đúng một con số mỗi phiên, là giá đóng cửa. Mọi thứ đã mất khi nén một phiên thành cây nến, chuyện đã bàn ở đọc nến Nhật, thì ở đây mất thêm lần nữa: cả thân lẫn bóng nến đều không tham gia.

Bước 2: giá trị mồi

Với n phiên đầu, hai trung bình khởi tạo bằng trung bình cộng thông thường:

AG(n) = ( U(2) + U(3) + ... + U(n+1) ) / n
AL(n) = ( L(2) + L(3) + ... + L(n+1) ) / n

AG là trung bình của các mức tăng, AL là trung bình của các mức giảm.

Bước 3: làm trơn Wilder

Từ phiên tiếp theo, hai trung bình cập nhật theo công thức đệ quy:

AG(t) = [ AG(t−1) × (n−1) + U(t) ] / n
AL(t) = [ AL(t−1) × (n−1) + L(t) ] / n

Đây chính là một trung bình luỹ thừa với hệ số làm trơn α = 1/n, không phải α = 2/(n+1) như đường trung bình luỹ thừa thông thường. Khác biệt đó là chuyện của một mục riêng bên dưới.

Bước 4: tỷ số, rồi phép ép

RS(t)  = AG(t) / AL(t)
RSI(t) = 100 − 100 / ( 1 + RS(t) )

Quy ước: nếu AL(t) = 0 thì RSI(t) = 100. Toàn bộ chỉ báo là như vậy, dựng lại được bằng một bảng tính bốn cột.

Vì sao con số luôn nằm trong đoạn từ 0 tới 100

Điều này được nhắc rất nhiều nhưng ít khi được chứng minh, và phép chứng minh chỉ dài bốn dòng. UL theo định nghĩa đều không âm, nên AG ≥ 0AL ≥ 0; suy ra RS = AG/AL nằm từ 0 tới vô cùng, 100/(1 + RS) lớn hơn 0 và không quá 100, nên RSI = 100 − 100/(1 + RS) nằm từ 0 tới nhỏ hơn 100.

Điểm mấu chốt: giới hạn 0 và 100 không đến từ thị trường, nó đến từ dạng hàm. Không quy luật nào của giá cổ phiếu bảo rằng động lượng phải nằm trong một đoạn hữu hạn. Chỉ có một phép biến đổi ép một tỷ số vô hạn vào một đoạn hữu hạn, và mọi tính chất của chiếc thang 0 tới 100 đều là tính chất của phép biến đổi đó.

Thang đo này không đều, và đó là chỗ dễ bị lừa nhất

Hàm 100 − 100/(1+x) chia trục RS thành hai nửa rất chênh lệch: đoạn RS từ 0 tới 1 trải ra đúng 50 điểm RSI, còn đoạn từ 1 tới vô cùng cũng chỉ được 50 điểm.

RS, tức tỷ số giữa mức tăng và mức giảm trung bìnhRSI
00.0000
0.533.3333
150.0000
266.6667
375.0000
990.0000

Để đi từ RSI 50 lên RSI 66.67, tỷ số chỉ cần tăng gấp đôi; để đi từ RSI 75 lên RSI 90, nó phải tăng gấp ba. Nói cách khác, câu "RSI tăng 10 điểm" không có nghĩa cố định. Hệ quả kéo theo: mọi ngưỡng cách đều nhau như 30, 50 và 70 đều là những mốc cách đều trên thang đã bị bóp, không phải trên đại lượng gốc; chúng trông đối xứng vì các con số trông đối xứng, không vì cái chúng đo có tính đối xứng nào.

Đường cong chuyển tỷ số sang thang RSI, trục ngang là tỷ số từ 0 tới vô cùng và trục dọc là điểm RSI từ 0 tới 100, cho thấy đoạn tỷ số dưới 1 chiếm đúng nửa thang đo còn toàn bộ phần còn lại bị nén vào nửa kia

Cùng một khoảng 10 điểm RSI ứng với những thay đổi tỷ số rất khác nhau tuỳ vị trí trên thang. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Cái tên nói dối về đối tượng so sánh

Chữ "tương đối" trong tên đầy đủ của chỉ báo khiến rất nhiều người hiểu rằng nó đo sức mạnh của cổ phiếu so với thị trường hoặc so với ngành. Công thức bác bỏ chuyện đó ngay: trong cả bốn bước chỉ có duy nhất một chuỗi giá tham gia, và cái được so là mức tăng trung bình của mã đó với mức giảm trung bình của chính nó. Vậy nên phép đem RSI của hai mã ra cạnh nhau để xem mã nào "mạnh hơn" là một phép so không có nội dung, và phần sau sẽ đo cho thấy nó vô nghĩa tới mức nào. Khái niệm sức mạnh tương đối giữa các cổ phiếu có tồn tại thật, nhưng đó là một họ chỉ số khác hẳn, xây trên phép xếp hạng hiệu suất giữa nhiều mã.

Bên trong RSI là một đường trung bình, và là đường chậm nhất

Bước 3 chính là một đường trung bình luỹ thừa, nhưng nó dùng α = 1/n chứ không dùng α = 2/(n+1). Với n = 14, khác biệt là 1/14 = 0.0714 so với 2/15 = 0.1333, tức gần đúng một nửa. Cách làm trơn này thường được gọi theo tên tác giả gốc của chỉ báo, và điểm quan trọng là: nó chậm gấp đôi đường trung bình luỹ thừa cùng tham số. Phần chứng minh đầy đủ, kèm phép kiểm ngược hệ số α từ chính chuỗi dữ liệu và bảng so sánh độ trễ trọng tâm của ba cách làm trơn, nằm ở bài đầu của chuỗi này, đường trung bình động. Ở đây chỉ cần một hệ quả: cảm giác rằng RSI "lì" hơn mức bạn nghĩ là đúng, và nó có nguyên nhân số học. Nó cũng giải thích chuyện người ta chỉnh cửa sổ RSI thật ngắn cho nhạy rồi vẫn thấy nó phản ứng chậm hơn một đường luỹ thừa cùng độ dài: bên trong hai công cụ là hai hệ số làm trơn khác nhau gần gấp đôi.

Chữ "14 phiên" trong tên chỉ báo mô tả sai chính nó

Công thức đệ quy ở bước 3 là một bộ lọc có bộ nhớ vô hạn: trọng số của phiên cách hiện tại j phiên bằng đúng

w(j) = (1/n) × ((n−1)/n)^j

Với n = 14, trọng số này không bao giờ bằng 0j lớn tới đâu, nó chỉ nhỏ dần.

Trọng số của từng phiên trong RSI 14 làm trơn theo Wilder
02468%t-0: 7.1429 %t-2: 6.1589 %t-4: 5.3105 %t-6: 4.5789 %t-9: 3.6661 %t-13: 2.7257 %t-20: 1.6225 %t-27: 0.9658 %t-0t-2t-4t-6t-9t-13t-20t-27
Trọng số của từng phiên trong RSI 14 làm trơn theo Wilder. Đơn vị %.
MốcTrọng số (%)
t-07.1429
t-26.1589
t-45.3105
t-64.5789
t-93.6661
t-132.7257
t-201.6225
t-270.9658

Suy trực tiếp từ công thức đệ quy với n = 14. Nhãn t-0 là phiên gần nhất. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Cộng dồn trọng số của đúng 14 phiên gần nhất được 64.57%, nghĩa là 35.43% trọng số của một chỉ báo mang tên "14 phiên" đến từ những phiên cũ hơn 14 phiên, kéo về quá khứ với đuôi mỏng dần và không bao giờ tắt hẳn. Hai con số nữa suy ra từ đó: bán rã trọng số là 9.35 phiên, và cần khoảng 62 phiên thì ảnh hưởng của giá trị mồi ở bước 2 mới rơi xuống dưới 1%.

Cùng mã, cùng ngày, cùng tham số, khác nhau 8.68 điểm chỉ vì nạp ít hay nhiều lịch sử

Vì bộ nhớ vô hạn nên giá trị RSI hôm nay phụ thuộc vào chỗ phép tính bắt đầu. Đo trên một mã sàn HOSE tại phiên 04/09/2026, chỉ đổi độ dài chuỗi nạp vào: nạp 20 phiên cho 72.0953, nạp 30 phiên cho 80.7721, nạp 50 phiên cho 76.8174, và từ khoảng 200 phiên trở lên hội tụ ở 77.4144. Hai con số đầu cách nhau 8.68 điểm trên cùng một mã, cùng một ngày, cùng một tham số. Ứng dụng thẳng: một công cụ chỉ nạp vài chục phiên đang hiển thị một con số khác với con số hội tụ, và nó không báo cho người xem biết.

"Quá mua" mô tả một đoạn đang tăng, không phải một đoạn sắp giảm

Đây là chỗ chênh lệch lớn nhất giữa cái tên và cái công thức đo, và nhìn công thức thì hiển nhiên: RSI cao nghĩa là AG lớn hơn AL nhiều, tức chuỗi vừa qua có nhiều phiên tăng và ít phiên giảm, đúng định nghĩa của một đoạn tăng đang chạy. Chỉ báo mô tả đúng thứ nó đo; chỉ có cái nhãn "quá mua" là gắn thêm một mệnh đề về tương lai mà công thức không hề chứa.

Đo bằng số cũng ra như vậy. Lấy sự kiện "RSI 14 cắt lên trên 70", gộp các tín hiệu liên tiếp về phiên đầu cụm, rồi so mức tăng sau đó với mức nền của chính mã ấy trong cùng 5 năm 06/09/2021 tới 04/09/2026:

Mức tăng giá trung bình sau khi RSI 14 cắt lên trên 70, so với mức nền, trên một mã sàn HOSESau tín hiệuMức nền cùng giai đoạn
0246810%sau 5 phiên · Sau tín hiệu: 2.92 %sau 5 phiên · Mức nền cùng giai đoạn: 0.86 %sau 10 phiên · Sau tín hiệu: 6.47 %sau 10 phiên · Mức nền cùng giai đoạn: 1.73 %sau 20 phiên · Sau tín hiệu: 9.74 %sau 20 phiên · Mức nền cùng giai đoạn: 3.62 %sau 5 phiênsau 10 phiênsau 20 phiên
Mức tăng giá trung bình sau khi RSI 14 cắt lên trên 70, so với mức nền, trên một mã sàn HOSE. Đơn vị %.
MốcSau tín hiệu (%)Mức nền cùng giai đoạn (%)
sau 5 phiên2.920.86
sau 10 phiên6.471.73
sau 20 phiên9.743.62

Giai đoạn 06/09/2021 tới 04/09/2026, 27 sự kiện sau khi gộp các tín hiệu liên tiếp. Mức nền là mức tăng trung bình của cùng mã, cùng giai đoạn, cùng độ dài cửa sổ. Mô tả quá khứ của một mã, không phải một quy tắc giao dịch. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Hai mã còn lại cùng chiều ở mốc 20 phiên: mã phần mềm 2.34% so với nền 0.99% trên 33 sự kiện, mã thép 2.95% so với nền 0.15% trên 15 sự kiện.

Và đây là chỗ phải dừng lại. Kết luận đúng rút ra từ bộ số này là chỉ báo không nói điều mà tên nó nói, và nó tuyệt đối không được lật ngược thành "vậy thì mua khi RSI vượt 70". Ba lý do nằm ngay trong chính bộ số:

  • Độ phân tán rất lớn. Ở mốc 20 phiên của mã đầu tiên, tốt nhất là +46.4% còn xấu nhất là −24.49%; trung bình +9.74% sinh ra từ một đám mây rộng như vậy.
  • Số sự kiện quá nhỏ. Từ 15 tới 33 sự kiện mỗi mã trong 5 năm, và các cửa sổ 20 phiên chồng lấp nhau nên không độc lập.
  • Ba mã không phải một mẫu đại diện.

Bộ số này đủ để bác bỏ một mệnh đề sai, không đủ để dựng mệnh đề đúng thay vào chỗ đó.

Bán ở mỗi lần RSI vượt 70 là tự nguyện rời khỏi những đoạn tăng dài nhất

Điều này không phải xui rủi mà là một vòng lặp logic. RSI muốn nằm trên 70 lâu ngày thì phải có nhiều phiên tăng liên tiếp, mà nhiều phiên tăng liên tiếp chính là một đoạn tăng dài. Bán ở tín hiệu đó tức là bán vì lý do đoạn tăng đang mạnh.

Đo trên một mã sàn HOSE trong cửa sổ 500 phiên 29/08/2024 tới 04/09/2026: hai lần chỉ báo giữ trên 70 liên tục 23 phiên, lần đầu giá tăng +43.64% và lần sau +42.56%, đỉnh RSI lên tới 95.34. Chuỗi dài nhất đo được còn dài hơn, 34 phiên liên tiếp trên 70 trên một mã sàn HNX; bài không nêu tên mã đó vì ở đây cái tên gắn với một mức lợi nhuận cụ thể.

Ý nghĩa không phải "đừng bán", mà là: trong những đoạn xu hướng mạnh, chỉ báo mất khả năng phân biệt. Một tín hiệu lặp lại không đổi trong 34 phiên liền không còn là tín hiệu, nó là một hằng số.

70 không phải một ngưỡng theo nghĩa so sánh được giữa các mã

Nếu 70 là một ngưỡng thật thì tần suất kích hoạt của nó phải tương đương nhau giữa các cổ phiếu. Không có chuyện đó.

Tỷ lệ phiên có RSI 14 vượt 70, cùng tham số, cùng cửa sổ 486 phiên
051015202530% số phiênMã bất động sản, HOSE: 26.7 % số phiênMã ngân hàng, HOSE: 10.9 % số phiênMã khai khoáng, UPCoM: 9.3 % số phiênMã phần mềm, HOSE: 2.5 % số phiênMã bất động sản, HOSEMã ngân hàng, HOSEMã khai khoáng, UPCoMMã phần mềm, HOSE
Tỷ lệ phiên có RSI 14 vượt 70, cùng tham số, cùng cửa sổ 486 phiên. Đơn vị % số phiên.
MốcTỷ lệ phiên vượt 70 (% số phiên)
Mã bất động sản, HOSE26.7
Mã ngân hàng, HOSE10.9
Mã khai khoáng, UPCoM9.3
Mã phần mềm, HOSE2.5

Cửa sổ 500 phiên 29/08/2024 tới 04/09/2026, còn 486 phiên có giá trị sau đoạn khởi động. Bốn mã thuộc bốn ngành và ba sàn, chọn để trải rộng độ biến động, không phải mẫu đại diện. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Chênh 10.7 lần giữa hai đầu, tức một quy tắc dùng chung con số 70 cho cả bốn mã đang áp bốn mức độ chặt chẽ hoàn toàn khác nhau. Đây là cùng dạng lỗi với chuyện ngưỡng phần trăm gặp lưới bước giá, đã bàn ở xu hướng và cấu trúc giá: một con số tuyệt đối áp lên những chuỗi có độ phân tán khác nhau thì có ý nghĩa khác nhau, và không có gì trên màn hình nhắc người xem.

Và cặp 30/70 cũng không đối xứng như hai con số của nó gợi ý. Cùng 486 phiên đó, mã bất động sản có 130 phiên trên 70 nhưng đúng 4 phiên dưới 30 (54 phiên trên 80, không phiên nào dưới 20), trong khi mã phần mềm ngược hẳn với 12 phiên trên 70 và 32 phiên dưới 30. Sự đối xứng nằm ở hai con số trên trục, không nằm ở dữ liệu; cộng thêm tính phi tuyến của phép ép đã nói ở đầu bài, cặp 30/70 không tương ứng với hai trạng thái đối xứng nào của thị trường.

Cùng một cái tên, ba con số khác nhau

Đây là chỗ hỏng nặng nhất của cả bài, và nó nằm trước mọi tranh luận về ngưỡng. Bước 3 dùng cách làm trơn Wilder, nhưng đó chỉ là mặc định: cùng cái tên RSI 14, hai trung bình AGAL có thể được làm trơn theo ít nhất ba cách, là Wilder với α = 1/n, luỹ thừa thông thường với α = 2/(n+1), hoặc trung bình cộng đơn giản trên đúng n phiên. Người đọc gần như không bao giờ chọn; phần mềm chọn hộ và thường không ghi ra.

Đọc thẳng ba giá trị trên cùng một mã cùng phiên 28/08/2026: 50.317 với Wilder, 57.9292 với luỹ thừa thông thường, 46.875 với trung bình cộng, tức biên độ 11.05 điểm cho một phiên bình thường. Ở phiên chênh nhất trong hai năm, khoảng cách giữa Wilder và trung bình cộng lên tới 35.89 điểm: 42.14 so với 6.25, một bên nói trung tính và một bên nói quá bán cực độ, cả hai đều tính đúng theo cách của mình.

Và đây là con số nói lên vấn đề rõ nhất: tỷ lệ số phiên mà hai cách tính cho kết luận quá mua hay quá bán ngược nhau dao động từ 13.4% tới 17.1% tuỳ mã, đo trên năm mã cùng cửa sổ 486 phiên. Cứ khoảng sáu tới bảy phiên thì có một phiên hai phần mềm chạy cùng chỉ báo cùng tham số nói ngược nhau. Nguyên nhân số học nằm sẵn ở mục trước: biến thể trung bình cộng dùng đúng 14 phiên và không nhớ gì xa hơn, còn biến thể Wilder có 35.43% trọng số nằm ngoài 14 phiên. Hai bộ lọc khác nhau cho hai con số khác nhau là chuyện bình thường; cái không bình thường là chúng dùng chung một cái tên.

Việc dùng được ngay: mở phần cài đặt chỉ báo trên công cụ bạn đang dùng và tìm chỗ ghi cách làm trơn. Không tìm thấy thì con số RSI trên màn hình chưa có nghĩa xác định, và mọi ngưỡng đặt lên nó cũng vậy.

Bốn chỗ thị trường Việt Nam đi thẳng vào công thức

Bốn đặc thù dưới đây đã được dựng đầy đủ ở các bài nền của chủ đề. Phần này không giải thích lại cơ chế, chỉ đo hậu quả cụ thể lên RSI.

Biên độ cắt cụt hai chuỗi đầu vào, và cũng bơm chỉ báo lên

Cơ chế biên độ cắt cụt cây nến nằm ở đọc nến Nhật, chuyện biên độ trải một cú lệch ra nhiều phiên nằm ở xu hướng và cấu trúc giá. Chỗ chạm vào RSI có hai hướng ngược nhau, phải nói cả hai.

Hướng thứ nhất là nén. Biên độ chặn trực tiếp U(t)L(t), đúng hai chuỗi làm nên tử số và mẫu số của RSI. Đo trên 499 biến động trong cửa sổ 29/08/2024 tới 04/09/2026:

Số phiên vượt biên độPhiên nằm sát mépMức kỳ vọng nếu phân phối chuẩn
Mã bất động sản, HOSE, ±7%0 trên 49943 phiên, 8.62%khoảng 1.68%
Mã ngân hàng, HOSE, ±7%0 trên 49911 phiên, 2.20%khoảng 0.13%
Mã phần mềm, HOSE, ±7%0 trên 4999 phiên, 1.80%khoảng 0.02%

"Sát mép" nghĩa là nằm trong 0.15 điểm phần trăm quanh giới hạn. Không phiên nào vượt qua, mà lại có một đống phiên dồn ngay tại đó, gấp 5.1 lần mức kỳ vọng ở mã đầu bảng và khoảng 90 lần ở mã cuối bảng. Biên độ 7% chỉ cách trung bình 2.39 độ lệch chuẩn với mã đầu bảng nhưng 3.68 độ lệch chuẩn với mã cuối, tức mã càng biến động mạnh thì phần phân phối bị cắt càng nhiều; sang HNX với biên độ ±10% thì chỉ 0.40% số phiên chạm mép.

Hệ quả: không có thị trường nào trong sách vở nước ngoài mà phân phối đầu vào của RSI bị cắt cụt như vậy. Mọi ngưỡng nhập khẩu đều được hiệu chỉnh, dù ngầm, cho một phân phối khác.

Hướng thứ hai là bơm, và phần này ít được nói hơn hẳn. Biên độ đổi một cú lệch cung cầu duy nhất thành chuỗi nhiều phiên tăng liên tiếp, mà chuỗi ấy lại chính là thứ làm AG phình lên và AL teo đi. Bằng chứng khớp nhau trong cùng bộ số: mã có chuỗi tăng liên tiếp dài nhất, 12 phiên, cũng đúng là mã có tỷ lệ phiên RSI vượt 70 cao nhất, 26.7%; và mã đó có 253 phiên tăng với mức tăng trung bình chỉ +2.534%, tức AG được nuôi bằng một chuỗi dài các mức tăng nhỏ bị chặn chứ không phải vài phiên nhảy vọt. Câu chốt: ở thị trường có biên độ, RSI cao và giữ cao lâu là hệ quả dự đoán được của cơ chế giao dịch, không phải một trạng thái hiếm gặp.

Lưới bước giá đóng băng chỉ báo, và chuyện này chứng minh được

Lưới bước giá đặt sàn cho mọi ngưỡng phần trăm, cơ chế đầy đủ nằm ở hỗ trợ và kháng cự bản chất là gì. Chỗ chạm vào RSI rất sạch: đầu vào của nó là hiệu hai giá đóng cửa, mà giá chỉ nhận bội số của một bước giá, nên hiệu đó hoặc bằng 0, hoặc ít nhất bằng một bước giá. Khi bằng 0, tức phiên đứng giá, thì U = 0L = 0, nên cả AG lẫn AL cùng nhân với (n−1)/n = 0.928571; hai vế của một phân số cùng nhân một hằng số thì tỷ số không đổi, nên RSI giữ nguyên tới từng chữ số. Kiểm bằng số: 58.4795202524 trước một phiên đứng giá và 58.4795202524 sau phiên đó.

Tần suất phiên đứng giá xếp đúng thứ tự mà lưới bước giá dự đoán, đo trên 499 biến động cùng cửa sổ:

Bước giá so với thị giáSố phiên đứng giáTỷ lệ
Mã sàn HNX quanh 15,300 đ100 đ, tức 0.65%8216.43%
Mã bất động sản, HOSE50 đ tại vùng giá phổ biến5511.02%
Mã khai khoáng, UPCoM100 đ5310.62%
Mã ngân hàng, HOSE50 đ255.01%
Mã phần mềm HOSE quanh 72,800 đ100 đ, tức 0.14%142.81%

Chênh gần sáu lần giữa hai đầu: với mã đứng đầu, cứ khoảng sáu phiên thì có một phiên RSI không nhúc nhích. Hệ quả rất cụ thể: một đoạn RSI nằm ngang có thể do động lượng cân bằng thật, hoặc đơn giản do không có giao dịch nào làm đổi giá đóng cửa, và trên đồ thị hai thứ đó trông giống hệt nhau.

Giao dịch thoả thuận: RSI mù, và phải nói cho đúng mức

Cơ chế giao dịch thoả thuận không đi qua sổ lệnh nằm ở khối lượng giao dịch nói gì. Chỗ chạm vào RSI tinh tế hơn ba biến dạng kia và dễ bị thổi phồng, nên phải nói chính xác: RSI chỉ đọc giá đóng cửa, mà giá đóng cửa trên HOSE và HNX hình thành từ phiên khớp lệnh định kỳ trong sổ lệnh. Nên RSI không bị thoả thuận làm méo trực tiếp theo cách cột khối lượng bị méo. Nhưng có hai hệ quả gián tiếp.

Một: chính vì RSI mù với khối lượng, nó không phân biệt được một phiên tăng 3% với thanh khoản dày trong sổ lệnh và một phiên tăng 3% mà phần lớn hàng thật đổi chủ ngoài sổ lệnh; hai phiên đó đóng góp y hệt nhau vào AG.

Hai: mọi cách "chữa" RSI bằng cách ghép thêm khối lượng đều thừa hưởng nguyên vẹn bài toán mà bài khối lượng đã dựng, là các bảng giá không thống nhất về việc có gộp thoả thuận vào cột khối lượng hay không. Ghép một đại lượng sạch với một đại lượng chưa xác định thì kết quả thừa hưởng phần chưa xác định.

Khoảng trống giá giả: chỗ đo được rõ nhất, và cũng chỗ dễ nói sai nhất

Cơ chế khoảng trống giá do điều chỉnh quyền nằm ở xu hướng và cấu trúc giá. Với RSI thì hậu quả đo được tới từng điểm chỉ báo, và đây là phần có bằng chứng chặt nhất của cả bài.

Cách đo: với một sự kiện quyền đã biết điều khoản, dựng ngược chuỗi giá thô từ chuỗi đã điều chỉnh bằng hệ số quyền, rồi tính RSI 14 trên cả hai chuỗi và so từng phiên. Hệ số quyền được kiểm chéo hai đường độc lập, một suy từ điều khoản sự kiện và một suy từ bước giá nhỏ nhất trong chuỗi đã điều chỉnh, trùng nhau tới sáu chữ số thập phân ở cả bốn ca; chuỗi thô dựng lại còn rơi đúng vào các mức giá hợp lệ của lưới bước giá HOSE.

Bốn trường hợp, xếp theo thứ tự ngày sự kiện:

Ngày không hưởng quyềnLoại sự kiệnHụt giá nhân tạoLệch RSI 14 lớn nhấtPhiên còn lệch từ 5 điểm
15/07/2024Quyền mua 3:113.97%19.60 điểm18
26/06/2025Thưởng cổ phiếu 10:216.67%40.73 điểm31
07/08/2025Thưởng 100:30 kèm cổ tức tiền24.09%26.94 điểm29
17/11/2025Cổ tức tiền 6,500 đ mỗi cổ phiếu3.80%6.99 điểm3

Bốn ngành khác nhau, ba loại sự kiện quyền, ba năm. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Ca ngày 26/06/2025 là ca đắt nhất. Thưởng cổ phiếu là chuyện thuần hành chính, không cổ đông nào mất một đồng nào: trên chuỗi đã điều chỉnh, giá hôm đó nhích +0.59%; trên chuỗi thô, nó rơi từ 27,200 đ xuống 22,800 đ, tức −16.18%. Độ lệch RSI mà bước nhảy ấy tạo ra là 40.73 điểm, rộng hơn toàn bộ dải 30 tới 70 mà mọi quy tắc RSI dựa vào, và nó dai: giảm còn một nửa sau 16 phiên, còn từ 5 điểm trở lên suốt 31 phiên, từ 1 điểm trở lên suốt 49 phiên. Đó là hệ quả trực tiếp của bán rã 9.35 phiên và cái đuôi trọng số không bao giờ tắt.

Và nó biến thành tín hiệu sai thật, cả hai chiều. Cùng ca đó, chuỗi thô báo quá bán 5 phiên liền mà chuỗi đã điều chỉnh không hề báo; rồi ngược lại, chuỗi đã điều chỉnh báo quá mua 20 phiên mà chuỗi thô không hề báo, đỉnh RSI trong 25 phiên sau sự kiện là 87.9 trên một chuỗi và 61.1 trên chuỗi kia. Không phải "chỉ báo hơi lệch", mà là một tín hiệu hoàn toàn có mặt ở một bên và hoàn toàn vắng mặt ở bên kia. Đổi tham số cũng không cứu được: cửa sổ 9 phiên cho cú sốc sâu hơn nhưng ngắn hơn (51.52 điểm, dấu vết 38 phiên), cửa sổ 21 phiên nông hơn nhưng dai hơn (30.15 điểm, dấu vết 68 phiên).

Ba chỗ phải nói cho đúng.

Thứ nhất, và là chỗ dễ viết sai nhất. Không được nói rằng việc dữ liệu bị điều chỉnh hồi tố làm RSI của quá khứ khác hẳn RSI người ta thật sự nhìn thấy lúc đó. Câu đó sai, và đã đo để chắc: RSI bất biến với phép nhân toàn chuỗi, chênh lệch lớn nhất 7.11 nhân 10 mũ trừ 14 điểm. Lý do nằm ở công thức: nhân toàn chuỗi thì cả U lẫn L cùng nhân hằng số ấy nên tỷ số AG/AL không đổi, và trong cả bốn ca, mọi phiên trước ngày không hưởng quyền đều lệch đúng bằng 0. Cách nói đúng: đây là biến dạng của đường ống dữ liệu, không phải của thời gian, xuất hiện khi người ta tự dựng phép tính trên một nguồn giá thô chưa điều chỉnh rồi đem so với chỉ báo trên một công cụ chạy chuỗi đã điều chỉnh.

Thứ hai: biến dạng không phải lúc nào cũng lớn. Ca ngày 17/11/2025 là một đợt cổ tức tiền thông thường, hụt giá nhân tạo chỉ 3.80%, chỉ làm RSI lệch tối đa 6.99 điểm, còn từ 5 điểm trở lên đúng 3 phiên, và không tạo ra tín hiệu 30 hay 70 sai nào. Chỉ kể ba ca lớn thôi là dẫn người đọc tới một kết luận sai, rằng mọi ngày không hưởng quyền đều phá RSI. Cái quyết định là mức hụt giá so với biên độ dao động nền của chính mã đó: tỷ lệ này xếp cùng chiều với độ lệch ở cả bốn ca, 2.2 lần ra 6.99 điểm, 7.3 lần ra 19.60, 8.5 lần ra 26.94, 17.9 lần ra 40.73. Nó giải thích luôn nghịch lý trong bảng, rằng ca ngày 07/08/2025 có khoảng trống lớn nhất, 24.09%, mà độ lệch lại nhỏ hơn ca tháng 6, vì mã đó có biên độ nền gấp hơn ba lần. Đây là cơ chế nhất quán với bốn ca đã đo, không phải một công thức khớp được.

Thứ ba: bốn ca là bốn ca. Chúng trải bốn ngành, ba loại sự kiện quyền, ba năm, cùng dấu ở cả bốn vì mọi sự kiện quyền đều làm giá gãy xuống. Nhưng đó không phải mẫu thống kê: không trung bình, không quy nạp.

Hai đường RSI trùng khít nhau ở phần bên trái, tách hẳn ra tại vạch dọc đánh dấu ngày giao dịch không hưởng quyền, rồi thu hẹp dần khoảng cách qua nhiều chục phiên về phía bên phải

Sơ đồ nguyên tắc: hai chuỗi trùng nhau cho tới ngày không hưởng quyền, tách ra ở đúng phiên đó, rồi hội tụ chậm. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Biến dạng thứ năm: kỳ nghỉ Tết làm cửa sổ n phiên trải dài hơn

Cửa sổ của mọi chỉ báo đếm phiên, không đếm thời gian, điểm đã nêu ở khung thời gian và tính nhất quán. Một cửa sổ 14 phiên trong tháng 6 trải trên khoảng ba tuần lịch; cũng cửa sổ đó vắt qua kỳ nghỉ Tết cùng các ngày lễ liền kề có thể trải trên bốn tuần hoặc hơn. Và với bộ lọc có bộ nhớ vô hạn, cái đuôi trọng số còn kéo xa hơn: 62 phiên đủ dài để nuốt trọn một kỳ nghỉ mà chỉ báo không có cách nào biểu thị.

Hệ quả thứ hai đáng chú ý hơn. Quanh kỳ nghỉ dài thanh khoản thường loãng đi, và như đã chứng minh ở mục lưới bước giá, phiên đứng giá làm RSI đứng im tuyệt đối. Nên một đoạn RSI phẳng quanh Tết có ít nhất ba cách giải thích cạnh tranh nhau: động lượng cân bằng thật, thanh khoản mỏng, hoặc chuỗi bị các ngày nghỉ bóp lại.

Cùng loại vấn đề xảy ra khi chuỗi bị gãy vì luật: diện hạn chế giao dịch, diện đình chỉ, hoặc mốc đổi sàn. Chi tiết từng cách gãy nằm ở bài xu hướng và cấu trúc giá; chỗ chạm vào RSI nặng nhất là khi phần mềm lấp lỗ thủng bằng cách kéo ngang giá phiên gần nhất. Những cây nến phẳng chưa từng tồn tại ấy sinh ra chuỗi phiên đứng giá, mà phiên đứng giá thì đóng băng RSI tuyệt đối, nên chỉ báo báo một đoạn động lượng ổn định hoàn hảo trong đúng quãng cổ phiếu không được giao dịch.

Phân kỳ: định nghĩa được, nhưng trễ theo định nghĩa

Phân kỳ là cách dùng RSI phổ biến thứ hai sau ngưỡng, và nó đáng được định nghĩa chặt. Phân kỳ giảm: hai đỉnh giá cục bộ liên tiếp, đỉnh sau cao hơn đỉnh trước, trong khi RSI tại đỉnh sau thấp hơn tại đỉnh trước; phân kỳ tăng là hình ảnh gương với hai đáy. Định nghĩa này đủ chặt để cài bằng máy, nhưng nó chứa một tham số bắt buộc mà rất ít người nói ra: một phiên phải cao hơn bao nhiêu phiên ở mỗi bên thì mới được gọi là đỉnh cục bộ? Gọi con số đó là k. Đây đúng là vấn đề đã dựng ở xu hướng và cấu trúc giá, và ở đây nó quay lại nguyên vẹn.

Hai hệ quả của k, cả hai đều đo được

Hệ quả thứ nhất: đổi k là đổi số phân kỳ tìm được, trên cùng một chuỗi. Đo trên một mã trong cửa sổ 486 phiên: k = 3 cho 7 phân kỳ, k = 5 cho 6, k = 10 chỉ còn 2. Cùng dữ liệu, cùng chỉ báo, cùng định nghĩa; chỉ khác một con số do người phân tích tự chọn. Nên nêu một phân kỳ mà không nêu k là nêu một kết luận không kiểm chứng lại được.

Hệ quả thứ hai: phân kỳ trễ theo định nghĩa, không phải trễ vì thực hiện kém. Đỉnh thứ hai chỉ được gọi là đỉnh sau khi đã có thêm k phiên thấp hơn đi sau nó, nên phân kỳ sớm nhất cũng phải xuất hiện trễ ít nhất k phiên. Đo với k = 5, tính từ đỉnh tới phiên sớm nhất nhận ra được phân kỳ, giá đã đi từ −2.68% tới −14.18% tuỳ mã trong nhóm năm mã. Độ trễ ở đây nằm ngay trong định nghĩa, vì muốn biết một điểm có phải đỉnh không thì phải nhìn thấy phần đi sau nó. Hệ quả là k phiên gần nhất của mọi đồ thị luôn chưa kết luận được, và đó đúng là đoạn người ta muốn kết luận nhất.

Sơ đồ hai đỉnh giá với đỉnh sau cao hơn đỉnh trước, phía dưới là hai đỉnh chỉ báo với đỉnh sau thấp hơn, kèm dấu ngoặc đánh dấu k phiên cần có để xác nhận đỉnh thứ hai và mũi tên chỉ vào phiên sớm nhất kết luận được

Phân kỳ chỉ nhận ra được sau khi đỉnh thứ hai đã xác nhận, tức trễ ít nhất k phiên. Nguồn: FinLens tổng hợp.

Một chỗ hỏng thứ ba, chỉ nói ở mức lập luận

Đây là suy luận từ công thức, chưa tách được bằng số. AG là trung bình luỹ thừa với bán rã 9.35 phiên, nên nếu đỉnh giá thứ hai đến sau đỉnh thứ nhất một quãng đủ dài, phần đóng góp của cú tăng cũ đã tan gần hết, và RSI tại đỉnh sau có thể thấp hơn ngay cả khi cú tăng lần hai lớn tương đương. Nếu vậy thì một phần của tín hiệu phân kỳ là tính chất của bộ lọc chứ không phải của thị trường, và nhìn đồ thị thì không tách được hai phần đó.

Tham số 14 đến từ đâu, và có căn cứ gì với thị trường Việt Nam không

Câu trả lời ngắn: không tìm được căn cứ nào. Ba mảnh bằng chứng đều chỉ về cùng một hướng.

Một: 14 là giá trị mặc định thừa kế. Cả hai cách cài đặt RSI được đối chiếu đều đặt mặc định 14 phiên và mặc định làm trơn theo Wilder, tức mặc định đến từ tác giả gốc của chỉ báo chứ không từ một thị trường nào. Không tài liệu nào trong phạm vi kiểm chứng được của bài nêu lý do tác giả chọn con số đó, và bài cố ý không đoán.

Hai: thử tối ưu cửa sổ trên quá khứ thì thứ hạng bị đảo ngược. Chạy một lưới năm cửa sổ 7, 9, 14, 21, 28 với cùng luật RSI trên một mã, chia 5 năm thành hai kỳ tại mốc 05/03/2025:

Cửa sổTrong mẫu, SharpeTrong mẫu, lợi nhuậnNgoài mẫu, SharpeNgoài mẫu, lợi nhuận
7−0.72−43.22%1.64+71.81%
9−0.45−31.29%2.31+119.36%
14−0.03−9.11%1.24+44.83%
21−17.43%0.00%, không phát sinh lệnh nào
28−8.31%0.00%, không phát sinh lệnh nào

Bảng này cố ý KHÔNG có cột vượt mua-giữ, và đó là một thiếu sót phải nói ra chứ không phải một lựa chọn trình bày. Nó so năm cửa sổ với nhau, không so cửa sổ nào với phép mua rồi giữ, nên không dòng nào trong bảng nói được cấu hình đó có đáng dùng hay không. Riêng con số +119.36% ở dòng cửa sổ 9 tuyệt đối không được đọc thành một thành tích: mốc mua-giữ của chính mã này trong cùng giai đoạn nằm ở bảng tám mã phía dưới, và ở đó luật RSI thua mua-giữ ở phần lớn số mã.

Cửa sổ tốt nhất trong mẫu là 14, và nó là cửa sổ kém nhất trong ba cửa sổ có phát sinh lệnh ở kỳ sau; cả năm tổ hợp đều bị công cụ gắn cảnh báo dò tìm quá mức. Không dòng nào được đọc thành gợi ý chọn tham số: bảng có mặt để cho thấy thứ tự xếp hạng tham số trên quá khứ không mang thông tin nào về kỳ sau, cơ chế đầy đủ nằm ở vì sao tối ưu tham số hay dẫn tới overfit. Đọc thêm hai dòng cuối: đổi 14 thành 21 hay 28 không làm tín hiệu kém đi, nó làm tín hiệu ngừng tồn tại suốt kỳ sau, một loại rủi ro khác hẳn "tham số chưa tối ưu".

Ba: hệ quả của cùng một thay đổi cửa sổ khác hẳn nhau giữa các mã. Đo tỷ lệ phiên RSI vượt 70 theo năm cửa sổ, cùng chuỗi 486 phiên:

n = 7n = 9n = 14n = 21n = 28
Mã bất động sản, HOSE32.3%30.1%26.7%23.8%21.8%
Mã ngân hàng, HOSE19.1%15.5%10.9%4.0%1.5%
Mã khai khoáng, UPCoM14.6%12.8%9.3%5.4%3.2%
Mã phần mềm, HOSE9.3%5.9%2.5%0.0%0.0%

Với mã cuối bảng, chọn 21 thay vì 14 làm trạng thái quá mua không xuất hiện một lần nào trong hai năm; với mã đầu bảng, cùng thay đổi đó chỉ hạ từ 26.7% xuống 23.8%. Không tồn tại một cửa sổ đúng chung. Và một chi tiết chống lại cách hiểu đơn giản hoá: chuỗi RSI vượt 70 dài nhất đo được trên một mã trong nhóm đạt cực đại đúng ở n = 14, dài hơn cả n = 7 lẫn n = 28, nên quan hệ giữa độ dài cửa sổ và độ mượt của tín hiệu không đơn điệu.

Kết luận: con số 14 không sai, nhưng cũng không được kiểm chứng cho thị trường này. Nó là một mặc định, và mặc định cần được gọi đúng tên.

Một bảng kết quả mô phỏng, và nó có mặt ở đây để chứng minh một cách hỏng

Phần này in kết quả mô phỏng quá khứ, và cần nói trước ba điều để bảng được đọc đúng.

Thứ nhất, mục đích. Bảng dưới đây không nói luật nào tốt và không gợi ý dùng luật nào. Nó có mặt để cho thấy một con số trong bảng kết quả đang đo cái gì, và câu trả lời không phải cái người ta tưởng.

Thứ hai, tham số trượt giá thấp hơn sàn vật lý. Mô phỏng chạy ở trượt giá 0.05% mỗi chiều, một giá trị do người chạy đặt. Nhưng lưới bước giá đặt một sàn vật lý cho trượt giá tối thiểu, bằng một bước giá chia cho thị giá, và sàn đó cao hơn hẳn: 0.0687% mỗi chiều với mã phần mềm, 0.0684% với mã bán lẻ, 0.0808% với mã thực phẩm, 0.1152% với mã thép. Tức tham số dùng ở đây thấp hơn sàn của chính mã đó ở mọi dòng, riêng dòng cuối thấp hơn khoảng 2.3 lần. Trong một thí nghiệm riêng chạy lại 40 cấu hình với trượt giá nâng lên đúng sàn của từng mã, cả 40 đều xấu đi, không cấu hình nào tốt lên. Nên mọi con số dưới đây lạc quan hơn thực tế, và phần chênh ở các dòng gần 0 là phần dễ bị xoá nhất. Bảng sàn trượt giá đầy đủ nằm ở chi phí giao dịch ăn mòn lợi nhuận thế nào.

Thứ ba, cách đọc bảng. Bảng xếp theo mức sinh lời của phép mua-giữ chính mã đó, từ cao xuống thấp; cột cuối là phần chênh giữa luật và mua-giữ, có mặt ở mọi dòng. Luật mô phỏng: mua khi RSI 14 cắt xuống dưới 30, bán khi cắt lên trên 70; 5 năm 06/09/2021 tới 04/09/2026, phí 0.2% mỗi chiều, mô phỏng chu kỳ thanh toán T+2, từ 5 tới 7 lệnh mỗi mã.

Mua-giữLuật RSI 30/70Chênh so với mua-giữ
Mã bất động sản, HOSE+439.16%+17.92%−421.23 đpt
Mã ngân hàng, HOSE+180.58%+93.37%−87.21 đpt
Mã phần mềm, HOSE+53.22%+27.38%−25.84 đpt
Mã bán lẻ, HOSE+38.98%+34.27%−4.70 đpt
Mã ngân hàng thứ hai, HOSE+36.43%+80.33%+43.90 đpt
Mã thực phẩm, HOSE−6.00%+27.75%+33.75 đpt
Mã thép, HOSE−17.20%−8.92%+8.28 đpt

Cột cuối đọc từ trên xuống là một dãy liên tục đi từ −421.23 tới +43.90 rồi trở lại +8.28. Không có ranh giới nào cắt được dãy này thành hai nhóm trước khi biết kết quả, vì thứ xếp bảng là cột thứ hai, tức mức sinh lời của mua-giữ trong 5 năm, một đại lượng chỉ biết được khi 5 năm đã trôi qua.

Đó chính là điều bảng muốn nói. Luật RSI 30/70 là một cách đặt cược chống lại xu hướng, nên phần chênh của nó so với mua-giữ phần lớn phản ánh mã đó có xu hướng hay không trong giai đoạn ấy, chứ không phản ánh chất lượng của chỉ báo. Nói cho rõ vì đây là chỗ dễ trượt: bảng này không phải một quy tắc chọn mã, và không được đọc thành "vậy dùng luật RSI cho mã đi ngang", vì muốn dùng được như thế thì phải biết trước mã nào sẽ đi ngang trong 5 năm tới. Bảng chỉ nói một điều: một cột kết quả backtest không đo cái mà tên cột nó nói.

Ba cảnh báo còn lại: đây là mô phỏng quá khứ có phí và trượt giá giả định, không phải kết quả giao dịch thật; số lệnh mỗi mã chỉ từ 5 tới 7 trong 5 năm nên không có ý nghĩa thống kê; và bảy mã được chọn để trải rộng ngành nghề. Cách đọc một bảng backtest cho đúng là chủ đề của backtest là gì và đọc kết quả thế nào.

Tỷ lệ thắng là con số dễ hiểu sai nhất trong bảng kết quả

Hai ca dưới đây đến từ cùng bộ dữ liệu và hỏng theo hai hướng ngược nhau.

Ca thứ nhất: tỷ lệ thắng 100% mà vẫn thua mua-giữ 1,002.31 điểm phần trăm. Chạy đúng luật RSI 30/70 trên một mã sàn HOSE trong hai năm 06/09/2024 tới 04/09/2026, luật cho +44.83% trong khi mua-giữ cùng mã cùng giai đoạn cho +1,047.14%. Tỷ lệ thắng là 100% vì nó phát sinh đúng một lệnh: vào 04/02/2026 ở RSI 27.07, ra 15/04/2026 ở RSI 73.10, lãi 44.92%; phần còn lại của hai năm luật đứng ngoài. Tỷ lệ thắng đếm tỷ lệ lệnh có lãi, không đếm cái giá của việc đứng ngoài.

Ca thứ hai, ngược lại: tỷ lệ thắng 66.67% mà tổng vẫn âm. Cùng luật, cùng 5 năm, trên mã thép ở dòng cuối bảng trên: thắng 4 trên 6 lệnh nhưng tổng lợi nhuận −8.92%, vì tỷ số giữa tổng phần lãi và tổng phần lỗ chỉ bằng 0.78. Hai lệnh thua nuốt hết bốn lệnh thắng.

Bài học chung: tỷ lệ thắng đứng một mình không nói được gì. Nó phải đi kèm tỷ lệ giữa lãi trung bình và lỗ trung bình, và cả hai phải đi kèm số lệnh. Quan hệ toán học giữa ba đại lượng đó, và chỗ nó hay bị tính sai, là chủ đề của kỳ vọng toán học của một hệ thống.

Một chi tiết hay bị bỏ qua: luật RSI sinh rất ít lệnh, nên tổng chi phí giao dịch chỉ khoảng 2.5% tới 3.5% trong 5 năm, nghe như không đáng kể. Nhưng dòng thứ tư của bảng chỉ thua mua-giữ 4.70 điểm phần trăm, tức chi phí chiếm phần lớn khoảng chênh đó. Con số phải đối chiếu không bao giờ là chi phí so với tổng lợi nhuận, mà là chi phí so với phần chênh đang bàn tới. Biểu phí và thuế nằm ở chi phí thật của một giao dịch.

Công cụ này mất tác dụng khi nào

Đây là phần quan trọng nhất của bài. RSI là một phép biến đổi trên chuỗi số, và nó có những đầu vào mà kết quả không mang nội dung nào.

Tình huốngVì sao chỉ báo mất tác dụng
Không biết phần mềm dùng cách làm trơn nàoVô hiệu hoá mọi thứ phía sau: hai cách phổ biến lệch tới 35.89 điểm, kết luận ngược nhau ở 13.4% tới 17.1% số phiên
Chuỗi nạp vào ngắn hơn khoảng 62 phiênGiá trị mồi chưa tan; nạp 20 và nạp 30 phiên lệch 8.68 điểm trên cùng mã cùng ngày
Mã đang trong xu hướng mạnhChỉ báo lặp lại một trạng thái suốt hàng chục phiên, tức không còn phân biệt được gì
Đem RSI hai mã ra so với nhauNgưỡng 70 kích hoạt ở 2.5% số phiên với mã này và 26.7% với mã kia
Mã có nhiều phiên đứng giáRSI đứng im tuyệt đối ở phiên đứng giá; ở mã HNX giá thấp thì cứ khoảng sáu phiên có một phiên như vậy
Cổ phiếu giá thấp trên HNX hoặc UPCoMBước giá 100 đ đã chiếm hơn 1% thị giá, chuỗi đầu vào bị lượng tử hoá thô
Bước nhảy điều chỉnh quyền lọt vào cửa sổVào chuỗi đầu vào như một biến động thật: đo được 40.73 điểm lệch, dấu vết 49 phiên
Chuỗi bị gãy vì luậtDiện hạn chế, đình chỉ hoặc đổi sàn làm cửa sổ n phiên không còn là n phiên cùng loại
Cửa sổ vắt qua Tết hoặc kỳ nghỉ dàiCửa sổ đếm phiên chứ không đếm thời gian: cùng 14 phiên có thể trải ba tuần hoặc hơn bốn tuần
Có nhiều phiên trần hoặc sàn liên tiếpBiên độ đổi một cú lệch cung cầu thành chuỗi phiên tăng liên tiếp, đúng thứ đẩy RSI lên cực trị
Dùng phân kỳ mà không nêu tham số xác nhận đỉnhSố phân kỳ trên cùng chuỗi đi từ 7 xuống 2 chỉ vì đổi tham số đó
Định chọn cửa sổ tối ưu dựa trên quá khứThứ hạng năm cửa sổ đảo ngược giữa hai kỳ, hai cửa sổ dài không phát sinh lệnh nào ở kỳ sau
Đọc tỷ lệ thắng mà không kèm tỷ lệ lãi trên lỗCả hai chiều đều đo được: 100% thắng mà thua mua-giữ 1,002.31 đpt, và 66.67% thắng mà tổng vẫn âm
Hai phiên nến khác hẳn nhau nhưng cùng giá đóng cửaRSI chỉ đọc giá đóng cửa, nên hai phiên đó đóng góp y hệt nhau

Những chỗ bài này cố ý không khẳng định

Nguồn gốc lịch sử của con số 14. Bài xác nhận được 14 là mặc định của các cách cài đặt được đối chiếu, nhưng không khẳng định vì sao tác giả gốc chọn con số đó, vì không tra được tài liệu gốc trong phạm vi kiểm chứng được.

Mức độ phổ biến của từng cách làm trơn. Bài chứng minh được ba cách cho ba con số lệch tới 35.89 điểm, nhưng không biết công cụ nào dùng cách nào, và cố ý không dựng bảng đối chiếu theo tên phần mềm.

Số liệu tần suất chỉ đo trên vài mã. Tỷ lệ phiên vượt 70, độ dài chuỗi và tỷ lệ phiên đứng giá đều đo trên năm mã chọn có chủ đích để trải đủ ba sàn và đủ dải biến động; đây không phải mẫu đại diện. Biến dạng khoảng trống giá giả cũng chỉ đo trên bốn ca: bài không lấy trung bình và không phát biểu quy luật thống kê nào.

Bài không khẳng định rằng điều chỉnh hồi tố làm hỏng RSI của quá khứ. Điều đó đã đo và nó sai. Bài cũng không khẳng định các công cụ đồ thị bên ngoài đang hiển thị chuỗi nào; thứ kiểm được chỉ là chuỗi dùng trong phép đo này đã điều chỉnh quyền.

Phần đóng góp của bộ lọc vào tín hiệu phân kỳ chưa tách được bằng số, và bài không nêu con số nào cho khung ngắn hơn ngày vì dữ liệu trong phiên nằm ngoài phạm vi đo.

Không có nghiên cứu công khai kiểm chứng lại được cho thị trường Việt Nam về tần suất hay độ tin cậy của phân kỳ, hay của bất kỳ ngưỡng RSI nào. Định nghĩa phân kỳ dùng ở đây là định nghĩa tự đặt để đo được, và chính sự tuỳ ý đó là một phần của kết luận. Gặp một tài liệu nêu tỷ lệ chính xác cho câu hỏi "phân kỳ đúng bao nhiêu phần trăm số lần", hãy hỏi tỷ lệ ấy đo trên tập nào, với k bằng bao nhiêu, và chuỗi đã điều chỉnh quyền chưa.

Và bài không nêu bộ tham số nào để dùng. Mọi bảng tham số ở đây có mặt để cho thấy thứ tự xếp hạng không ổn định, không phải để chọn ra dòng nào.

Tám câu hỏi trước khi đọc một con số RSI

Tám câu này trả lời được bằng vài phút thao tác trên công cụ đang có.

  1. Công cụ này đang dùng cách làm trơn nào? Không tìm thấy chỗ nào ghi thì con số trên màn hình chưa có nghĩa xác định.
  2. Có bao nhiêu phiên lịch sử nằm trước phiên tôi đang đọc? Dưới khoảng 62 phiên thì giá trị chưa hội tụ.
  3. Chuỗi này đã điều chỉnh quyền chưa, và cửa sổ nhìn lại có ngày không hưởng quyền nào không? Nếu có, hụt giá hôm đó lớn cỡ nào so với biên độ dao động thường ngày của mã?
  4. Bước giá bằng bao nhiêu phần trăm thị giá ở vùng giá hiện tại? Đó quyết định có bao nhiêu phiên chỉ báo đứng im.
  5. Trong đoạn đang xét có mốc nào làm chuỗi gãy không: diện xử lý, đình chỉ, đổi sàn, hay kỳ nghỉ dài?
  6. Ngưỡng 70 và 30 kích hoạt ở bao nhiêu phần trăm số phiên của chính mã này? Không có con số đó thì hai ngưỡng chỉ là hai số tròn.
  7. Nếu nói về phân kỳ, k bằng bao nhiêu, và bao nhiêu phiên gần nhất chưa kết luận được?
  8. Nếu đọc một bảng mô phỏng, cột "vượt mua-giữ" đâu, số lệnh bao nhiêu, và mức trượt giá dùng có cao hơn sàn của chính mã đó không?

Đọc tiếp gì

Đây là phần thứ hai của chuỗi "Chỉ báo kỹ thuật". Phần thứ nhất, đường trung bình động, sở hữu phần chứng minh về ba cách làm trơn và độ trễ trọng tâm mà bài này chỉ nhắc qua. Phần thứ ba, chỉ báo MACD, dựng từ hiệu hai đường trung bình nên thừa hưởng độ trễ của cả hai. Phần thứ tư, dải Bollinger, gặp đúng vấn đề biên độ đã bàn ở đây nhưng theo đường khác, vì nó dựa trên độ lệch chuẩn mà biên độ thì chặn cứng độ lệch chuẩn. Hai phần cuối trả lời hai chỗ bài này phải dừng lại: chỉ báo trễ và chỉ báo dẫn đo độ trễ như một phân bố, và vì sao tối ưu tham số hay dẫn tới overfit dựng lại cơ chế đứng sau chuyện thứ hạng năm cửa sổ bị đảo ngược.

Ba bài nền của chủ đề dựng đầy đủ các biến dạng nhắc ở trên: đọc nến Nhật cho biên độ cắt cụt cây nến, xu hướng và cấu trúc giá cho khoảng trống giá giả và chuỗi gãy vì luật, hỗ trợ và kháng cự bản chất là gì cho lưới bước giá. Và nếu định đem RSI vào một quy trình có mua bán thật: backtest là gì và đọc kết quả thế nào, chi phí giao dịch ăn mòn lợi nhuận thế nào cho phần sàn trượt giá, và chi phí thật của một giao dịch cho biểu phí và thuế.

Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán và không phải tư vấn đầu tư. Bài cố ý không nêu tên mã nào trong các bảng kết quả, vì ở đó cái tên gắn với một con số lời lỗ. Mọi kết quả trong bài là mô phỏng trên dữ liệu quá khứ với phí và trượt giá giả định, và mức trượt giá dùng thấp hơn sàn vật lý suy từ lưới bước giá. Số liệu chốt tại phiên 04/09/2026, do FinLens tổng hợp; quy tắc giao dịch dẫn theo quy chế hiện hành của HOSE, HNX và VSDC. Kết quả quá khứ không bảo đảm cho kết quả tương lai.

Câu hỏi thường gặp

RSI đo sức mạnh của cổ phiếu so với thị trường phải không?

Không. Trong công thức RSI chỉ có đúng một chuỗi giá, là chuỗi giá của chính mã đang xét. Nó so mức tăng trung bình của mã đó với mức giảm trung bình của chính mã đó, không có mã thứ hai, không có chỉ số, không có ngành nào tham gia. Chữ tương đối trong tên chỉ báo nói về quan hệ giữa hai chuỗi tăng và giảm nội bộ, không nói về quan hệ với thị trường.

RSI vượt 70 có nghĩa là cổ phiếu sắp giảm không?

Đo trên ba mã trong năm năm, sau khi RSI cắt lên trên 70 thì mức tăng trung bình của giá ở các mốc 5, 10 và 20 phiên đều cao hơn mức nền của chính mã đó, chứ không thấp hơn. Cơ chế hiển nhiên khi nhìn công thức: RSI cao nghĩa là chuỗi vừa qua có nhiều phiên tăng và ít phiên giảm, tức đúng định nghĩa của một đoạn tăng đang chạy. Nhưng độ phân tán rất lớn và số sự kiện rất nhỏ, nên kết luận đúng chỉ là chỉ báo không nói điều mà tên nó nói, tuyệt đối không phải làm ngược lại thì thắng.

Vì sao hai phần mềm cho hai giá trị RSI 14 khác nhau trên cùng một mã cùng một ngày?

Vì cái tên RSI 14 không xác định cách làm trơn. Có ít nhất ba cách cùng mang tên đó, và người đọc thường không chọn mà phần mềm chọn hộ rồi không ghi ra. Đo trên cùng một cửa sổ 486 phiên, hai cách phổ biến nhất lệch nhau tới 35.89 điểm ở phiên chênh nhất, và cho kết luận quá mua hay quá bán ngược nhau ở 13.4% tới 17.1% số phiên.

Cửa sổ 14 phiên có căn cứ gì với thị trường Việt Nam không?

Không tìm được căn cứ nào. Con số 14 là giá trị mặc định thừa kế từ tác giả gốc của chỉ báo, và không có nghiên cứu công khai kiểm chứng lại được nào hiệu chỉnh nó cho thị trường Việt Nam. Thử tối ưu cửa sổ trên quá khứ cũng không cứu được: trong một thí nghiệm chia trong mẫu và ngoài mẫu, thứ tự xếp hạng của năm cửa sổ bị đảo ngược hoàn toàn giữa hai kỳ, và hai cửa sổ dài không phát sinh một lệnh nào ở kỳ sau.

Ngày giao dịch không hưởng quyền ảnh hưởng thế nào tới RSI?

Bước nhảy giá ở ngày đó là một hiệu hai giá đóng cửa như mọi hiệu khác đối với công thức, nên nó đi thẳng vào chuỗi đầu vào và ở lại rất lâu. Đo trên bốn trường hợp thật, RSI tính trên chuỗi giá thô lệch so với RSI tính trên chuỗi đã điều chỉnh từ 6.99 tới 40.73 điểm, và ở ca lớn nhất còn lệch từ 5 điểm trở lên suốt 31 phiên. Nhưng biến dạng này chỉ xuất hiện khi bước nhảy nằm trong cửa sổ nhìn lại của chỉ báo, không xuất hiện vì dữ liệu bị điều chỉnh hồi tố cho các sự kiện về sau.

Cập nhật lần cuối:

Đọc tiếp

Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.