Xu hướng và cấu trúc giá
Xu hướng không phải cảm giác mà là một chuỗi đỉnh đáy đếm được. Nhưng phép đếm nào cũng cần một tham số, và đổi tham số là đổi kết luận.
FinLens30 phút đọc
Hai người mở cùng một đồ thị, của cùng một mã, trong cùng một buổi sáng. Người thứ nhất nói cổ phiếu đang trong xu hướng tăng. Người thứ hai nói xu hướng đó đã kết thúc từ mấy tuần trước.
Không ai nói dối, và cũng không ai cần dữ liệu tốt hơn. Họ đang dùng hai định nghĩa khác nhau cho cùng một chữ, và cả hai đều không nói ra định nghĩa của mình.
Bài này làm hai việc. Việc thứ nhất là biến chữ "xu hướng" thành một thứ đếm được, rồi chỉ ra rằng ngay cả khi đã đếm được, kết luận vẫn phụ thuộc vào một tham số mà người đếm phải tự chọn. Việc thứ hai, và là phần dài hơn, dành cho câu hỏi ít được đặt ra: ở thị trường Việt Nam, cỗ máy sinh ra chuỗi giá không giống cỗ máy mà giáo trình quốc tế mặc định, và nó khác đúng ở những chỗ làm hỏng phép đếm này.
Bài không đưa ra tín hiệu mua bán và không dự báo giá của bất kỳ mã nào.

"Nhìn là biết" không phải một định nghĩa
Cách gọi tên xu hướng phổ biến nhất là nhìn rồi cảm nhận. Nó có một ưu điểm thật, là người ta nhận ra hình dạng rất nhanh, và một nhược điểm giết chết mọi thứ xây trên nó: không ai kiểm lại được. Nếu tôi nói "mã này đang tăng" và bạn nói "không, nó đang đi ngang", chúng ta không có cách nào phân định, vì không ai phát biểu điều kiện để mình sai.
Cách thứ hai là kẻ một đường chạm vào vài đáy hoặc vài đỉnh rồi kéo dài ra. Vấn đề nằm ở chữ "vài". Với cùng một chuỗi giá, hai người kẻ hai đường khác nhau vì họ chọn hai bộ điểm khác nhau, và không có quy tắc nào bắt buộc chọn bộ nào. Đường kẻ trông như một phép đo khách quan nhưng thực chất là một lựa chọn đã được vẽ ra.
Cách thứ ba là dùng một đường trung bình rồi nói giá nằm trên hay nằm dưới nó. Cách này kiểm chứng lại được, nhưng nó không định nghĩa xu hướng, nó định nghĩa quan hệ giữa giá và một phép làm trơn. Đổi số phiên làm trơn là đổi kết luận, và bản thân đường trung bình là nội dung của một chuỗi bài khác.
Còn cách thứ tư, và đó là nội dung của bài này: mô tả xu hướng bằng cấu trúc, tức bằng thứ tự cao thấp của các đỉnh và các đáy mà chuỗi giá đã tạo ra. Ưu điểm của nó là hai người cùng quy tắc thì bắt buộc ra cùng kết quả, và khi ra khác nhau thì chỉ ra được ngay là khác ở tham số nào.
Câu chốt: một định nghĩa xu hướng chỉ đáng dùng khi nó nói rõ điều kiện để mình sai.
Định nghĩa xu hướng bằng chuỗi đỉnh và đáy
Phép mô tả bắt đầu từ hai đối tượng.
Đỉnh cục bộ là một phiên mà giá cao nhất của nó cao hơn giá cao nhất của các phiên nằm sát hai bên. Đáy cục bộ là phiên mà giá thấp nhất của nó thấp hơn giá thấp nhất của các phiên nằm sát hai bên.
Đánh dấu hết các đỉnh và các đáy trên một đoạn chuỗi giá, ta được một dãy điểm xen kẽ nhau: đỉnh, đáy, đỉnh, đáy. Bây giờ chỉ cần đọc hai câu hỏi rất đơn giản. Các đỉnh liên tiếp đang cao dần hay thấp dần? Các đáy liên tiếp đang cao dần hay thấp dần?
Bốn trạng thái, không phải hai
Hai câu hỏi độc lập nhau nên có bốn tổ hợp, không phải hai. Đây là chỗ mà cách kể thông thường hay lược bớt.
| Đỉnh liên tiếp | Đáy liên tiếp | Cấu trúc được xếp vào | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Cao dần | Cao dần | Cấu trúc tăng | Cả hai điều kiện cùng thoả |
| Thấp dần | Thấp dần | Cấu trúc giảm | Cả hai điều kiện cùng thoả |
| Cao dần | Thấp dần | Không thuộc hai loại trên | Khoảng dao động đang nới rộng ra |
| Thấp dần | Cao dần | Không thuộc hai loại trên | Khoảng dao động đang thu hẹp lại |
Hai dòng cuối quan trọng hơn vẻ ngoài của chúng. Chúng cho thấy "không tăng" không đồng nghĩa với "giảm". Phần lớn thời gian, một chuỗi giá không thoả cả hai điều kiện của bất kỳ dòng nào trong hai dòng đầu, và trạng thái đúng của nó là chưa xếp được vào đâu.
Một điều phải nói ngay để không ai đọc quá lên: đây là phép phân loại một chuỗi đã có, không phải phép dự báo. Nó trả lời câu hỏi "dữ liệu vừa qua trông như thế nào" và không chứa mệnh đề nào về phiên tiếp theo. Bảng trên không có cột nào tên là "giá sẽ đi đâu", và bài này cố ý không dựng một cột như vậy, vì chưa có nghiên cứu công khai, kiểm chứng lại được, cho thị trường Việt Nam để dựa vào. Bốn tên trong bảng chỉ là nhãn dán cho bốn tổ hợp điều kiện, không mang thêm ý nghĩa nào ngoài đúng điều kiện đã ghi.

Câu chốt: cấu trúc biến câu "trông có vẻ đang tăng" thành hai điều kiện kiểm lại được, và nó thừa nhận thẳng rằng phần lớn thời gian chuỗi giá không thoả điều kiện nào.
Tham số bắt buộc: một đỉnh cần bao nhiêu phiên để thành đỉnh
Định nghĩa ở trên có một lỗ hổng cố ý để lại: "các phiên nằm sát hai bên" là bao nhiêu phiên?
Câu hỏi này không có câu trả lời đúng. Nó là một tham số, và người phân tích phải tự chọn.
Cách khai phổ biến nhất là chọn một số phiên, gọi tạm là cửa sổ. Một phiên được coi là đỉnh nếu giá cao nhất của nó cao hơn giá cao nhất của đúng chừng ấy phiên bên trái và chừng ấy phiên bên phải.
Cùng một chuỗi, hai cửa sổ, hai kết luận
Lấy một chuỗi giả định để thấy hậu quả. Các con số dưới đây là số giả định dựng ra để minh hoạ cơ chế, không lấy từ mã nào và không phải kết quả đo trên thị trường.
Giả sử một đoạn 120 phiên. Với cửa sổ 2 phiên mỗi bên, thuật toán đánh dấu được 18 đỉnh và 17 đáy. Với cửa sổ 10 phiên mỗi bên, cũng đúng đoạn dữ liệu đó, nó chỉ đánh dấu được 4 đỉnh và 3 đáy.
Hệ quả:
| Cửa sổ | Số đỉnh đáy tìm được | Trạng thái cấu trúc | Đổi trạng thái |
|---|---|---|---|
| Hẹp, 2 phiên mỗi bên | Nhiều | Đổi liên tục | Rất thường xuyên |
| Rộng, 10 phiên mỗi bên | Ít | Rất ổn định | Rất hiếm |
Với cửa sổ hẹp, gần như mọi nhấp nhô nhỏ đều thành một đỉnh hoặc một đáy, nên chuỗi liên tục vi phạm điều kiện "cao dần" và cấu trúc nhảy qua nhảy lại giữa bốn ô của bảng trước. Với cửa sổ rộng, những nhấp nhô ấy bị bỏ qua hết, cấu trúc đứng yên rất lâu, đổi lại nó chỉ ghi nhận thay đổi rất muộn.
Đây không phải chuyện chọn đúng hay sai. Đây là một đánh đổi, và nó giống hệt đánh đổi giữa cửa sổ quan sát dài và ngắn khi đo rủi ro, chuyện đã bàn trong sụt giảm tối đa và thời gian hồi phục.
Điều rút ra là một quy tắc phát ngôn: câu "mã này đang trong cấu trúc tăng" chưa phải một mệnh đề đầy đủ. Mệnh đề đầy đủ là "với cửa sổ n phiên, trên đoạn dữ liệu từ ngày này tới ngày kia, cấu trúc thoả điều kiện tăng". Bỏ hai vế sau đi thì câu còn lại không kiểm chứng lại được, và nó quay về đúng chỗ mà mục đầu bài đã loại bỏ.
Biến thể ngưỡng phần trăm, và vì sao nó gãy ở Việt Nam
Một cách khai tham số khác là dùng ngưỡng phần trăm: chỉ tính là đỉnh mới khi nó cao hơn đỉnh trước ít nhất một tỷ lệ nào đó, chẳng hạn 1%.
Cách này nghe gọn hơn, nhưng ở thị trường Việt Nam nó vấp phải một thứ rất vật lý, đó là lưới giá. Mục "Lưới bước giá đặt sàn cho mọi ngưỡng" ở cuối bài trình bày con số cụ thể. Nói gọn trước: với nhiều cổ phiếu, bước giá nhỏ nhất mà hệ thống chấp nhận đã lớn hơn ngưỡng phần trăm mà người phân tích định đặt, nên ngưỡng đó không lọc được gì cả.
Câu chốt: mọi định nghĩa xu hướng đều có ít nhất một tham số tuỳ chọn, và đổi tham số là đổi kết luận, nên nêu kết luận mà giấu tham số là nêu một nửa.

Độ trễ không xoá được
Định nghĩa đỉnh đòi hỏi so sánh với các phiên bên phải, tức các phiên đi sau. Câu đó vô hại về mặt kỹ thuật nhưng có hệ quả rất nặng khi dùng.
Nếu cửa sổ là 5 phiên mỗi bên thì một đỉnh chỉ được xác nhận sau khi đã có thêm 5 phiên nữa. Độ trễ tối thiểu để gọi tên một đỉnh bằng đúng độ rộng cửa sổ, và không có cách nào làm nó nhỏ hơn: làm nhỏ hơn nghĩa là bỏ bớt điều kiện, mà bỏ bớt điều kiện thì đó không còn là đỉnh theo định nghĩa vừa khai. Nói cách khác, xu hướng là một phép mô tả quá khứ, và việc gọi tên nó ở hiện tại luôn trễ đúng bằng phần dữ liệu mà định nghĩa đòi hỏi.
Câu "hôm nay mã này đang trong cấu trúc tăng" nếu nói cho chính xác thì phải là "tính tới thời điểm cách đây n phiên, cấu trúc đến lúc đó thoả điều kiện tăng". Phần n phiên gần nhất chưa được phân loại, không phải vì thiếu công cụ mà vì chưa đủ dữ liệu để phép phân loại chạy.
Phần đuôi của đồ thị được vẽ lại
Hệ quả thứ hai ít được nói tới hơn. Khi có thêm phiên mới, những đỉnh và đáy vừa được đánh dấu ở gần cuối chuỗi có thể bị xoá đi hoặc dời chỗ, vì phiên mới làm điều kiện so sánh thay đổi.
Nghĩa là đồ thị có đánh dấu đỉnh đáy của hôm nay không giống đồ thị của hôm qua ở phần đuôi, dù phần dữ liệu cũ không đổi một chữ số nào. Ai nhìn lại một đoạn quá khứ và thấy các đỉnh đáy nằm rất gọn gàng thì nên nhớ rằng đoạn ấy đã được nhìn với đầy đủ phần đi sau, còn đoạn cuối cùng thì không bao giờ có được đặc quyền ấy.
Câu chốt: cấu trúc giá luôn rõ ràng ở giữa chuỗi và luôn mơ hồ ở cuối chuỗi, và cuối chuỗi mới là chỗ người ta cần câu trả lời.
Thị trường một chiều: cấu trúc giảm không đối xứng với cấu trúc tăng
Đến đây bắt đầu phần đặc thù Việt Nam, và đây là điểm khác biệt cấu trúc nhất so với tài liệu nước ngoài.
Tính tới tháng 09/2026, thị trường cơ sở Việt Nam chưa có bán khống có bảo đảm và chưa có giao dịch trong ngày. Cả hai đã có khung pháp lý tại Thông tư 120/2020/TT-BTC nhưng bị treo vì cần có đối tác bù trừ trung tâm cho thị trường cơ sở, thứ chưa triển khai. Lộ trình hiện có hai mốc: mục tiêu kế hoạch là quý 1 năm 2027, còn hạn pháp lý chậm nhất là 31/12/2027 theo Nghị định 245/2025/NĐ-CP. Cần nói cho đúng một chi tiết hay bị viết trống: trên thị trường phái sinh, VSDC đã đóng vai trò đối tác bù trừ trung tâm từ năm 2017, nên câu "Việt Nam chưa có đối tác bù trừ trung tâm" chỉ đúng với thị trường cơ sở.
Điều đó tạo ra một bất đối xứng nằm ngay trong cỗ máy sinh ra chuỗi giá:
| Chiều đi lên | Chiều đi xuống | |
|---|---|---|
| Ai có thể tham gia | Bất kỳ ai có tiền | Gần như chỉ người đang sở hữu cổ phiếu |
| Nguồn bị chặn trên bởi | Lượng tiền | Lượng cổ phiếu đang lưu hành và đang tự do |
| Người có quan điểm ngược thể hiện bằng cách | Đặt lệnh mua | Đứng ngoài, tức biến mất khỏi sổ lệnh |
| Có lực đối ứng cơ học không | Không có | Không có lực mua từ đóng vị thế bán khống |
Ba hệ quả cụ thể cho người đọc đồ thị.
Thứ nhất, phía bán trong sổ lệnh gần như chỉ gồm người đang sở hữu. Ở thị trường hai chiều, nguồn cung tại một mức giá có thể vượt quá lượng hàng thực có, vì người bán khống bán thứ mình đi vay. Ở đây thì không.
Thứ hai, không tồn tại lực mua đến từ việc đóng vị thế bán khống. Đây là chỗ mà một mảng lớn của giáo trình phương Tây mô tả một cỗ máy không có ở đây. Mọi khái niệm xây quanh việc phe bán khống bị ép mua lại đều không có đối tượng, và lớp dữ liệu tương ứng cũng không tồn tại.
Thứ ba, nguồn cung cưỡng bức duy nhất mang tính hệ thống là ký quỹ, và nó lan truyền giữa các mã. Cơ chế nằm trong diện cảnh báo, kiểm soát và hạn chế giao dịch: khi một cổ phiếu bị loại khỏi danh sách tài sản bảo đảm, giá trị tài sản được tính làm bảo đảm nhỏ đi trong khi dư nợ giữ nguyên, nên phần vốn thực có của nhà đầu tư so với khoản vay tụt xuống dưới ngưỡng duy trì mà giá chưa cần giảm một đồng nào. Và vì mã vừa bị loại lại là mã khó bán nhất, phần bị bán ra thường là một mã khác trong cùng tài khoản.
Ý nghĩa cho việc đọc cấu trúc, phát biểu như một khả năng cơ học chứ không phải một chẩn đoán: một đoạn giá đi xuống mạnh ở một mã không có tin gì có thể có nguyên nhân nằm ở một mã khác, và đồ thị của mã đang xem không chứa nguyên nhân ấy, cũng không thể chứa.
Đây là mô tả cơ chế, không phải cách nhận diện
Không có bất kỳ dữ liệu công khai kiểm chứng được nào cho phép nhìn một đoạn giá rồi kết luận nó do bán giải chấp gây ra hay không. Cơ chế trên giải thích vì sao một nguyên nhân có thể nằm ngoài đồ thị, và dừng ở đó. Mọi con số về tỷ lệ ký quỹ hay ngưỡng duy trì đều do từng công ty chứng khoán công bố trong khuôn khổ quy định chung, khác nhau giữa các công ty, và bài này không nêu con số nào.
Câu chốt: hai chiều của cấu trúc giá ở Việt Nam được sinh ra bởi hai tập người tham gia khác nhau, nên đối xứng trên hình vẽ không có nghĩa là đối xứng về cơ chế.
Biên độ trải một cú lệch ra nhiều phiên
Đặc thù thứ hai đánh thẳng vào phép đếm đỉnh đáy.
Mỗi phiên, giá bị chặn trên bởi giá trần và chặn dưới bởi giá sàn: biên độ thường là 7% trên HOSE, 10% trên HNX, 15% trên UPCoM, và nới lên lần lượt 20%, 30%, 40% ở phiên đầu tiên của một cổ phiếu hoặc phiên đầu sau khi tạm ngừng từ 25 ngày trở lên. Chi tiết cách tính nằm trong đọc bảng giá chứng khoán.
Với người đếm đỉnh đáy, biên độ tạo ra hai vấn đề.
Vấn đề thứ nhất: một cú lệch cung cầu bị chia thành nhiều phiên. Biên độ chặn mức giá thay đổi được trong một phiên, nó không đồng thời làm mất đi phần cung cầu chưa gặp nhau, nên phần đó thường được đẩy sang các phiên sau. Nghĩa là một chuỗi nhiều phiên trần liên tiếp không nhất thiết là nhiều sự kiện nối nhau; nó có thể là một cú lệch duy nhất bị luật cắt thành nhiều mảnh. Nếu đúng là một cú lệch duy nhất, thì đếm nó thành nhiều bước của một cấu trúc là đếm trùng một sự kiện, mà nhìn vào chuỗi giá thì không phân biệt được hai khả năng ấy.
Vấn đề thứ hai: trong chuỗi đó, thuật toán không tìm thấy đỉnh đáy nào. Trong một chuỗi trần liên tiếp, giá trần mỗi phiên được tính trên giá tham chiếu của phiên trước, nên nó cao dần lên. Giá cao nhất của các phiên vì thế tăng đơn điệu, và mọi phiên nằm giữa chuỗi đều thấp hơn phiên đứng sau nó. Không phiên nào thoả điều kiện cao hơn cả hai bên, nên thuật toán không đánh dấu được đỉnh cục bộ nào, dù giá đã đi rất xa. Hình dạng cây nến trong đoạn ấy cũng bị bóp về mức tối giản: một phiên mở cửa ở trần rồi đứng nguyên ở trần có thể có bốn giá bằng nhau, tức một vạch ngang không thân không râu, chuyện đã bàn trong đọc nến Nhật. Phép đếm đứng im đúng vào lúc chuỗi giá chạy nhanh nhất.
Một hiệu chỉnh trực giác cần thiết, vì nhiều người hình dung thị trường Việt Nam lúc nào cũng trần sàn. Trong phiên 28/08/2026, HOSE có 428 mã phát sinh giao dịch, trong đó 5 mã đóng cửa ở giá trần và 3 mã ở giá sàn. Tính chung cả ba nơi giao dịch với 1,544 mã, có 30 mã trần và 36 mã sàn. Nguồn: FinLens tổng hợp. Trần và sàn là ngoại lệ hiếm, không phải cảnh thường ngày.
Câu chốt: nến trần và nến sàn là nến bị luật cắt cụt, nên cả hình dạng lẫn số lượng đỉnh đáy trong đoạn đó đều do quy định quyết định trước khi thị trường quyết định.
Khoảng trống giá giả: bẫy lớn nhất của đồ thị dài hạn
Nếu chỉ được nhớ một điều từ bài này khi nhìn đồ thị nhiều năm, hãy nhớ điều này.
Khi doanh nghiệp chia cổ tức tiền mặt, chia cổ phiếu thưởng hoặc phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu, Sở giao dịch điều chỉnh giá tham chiếu theo giá trị quyền, vì người mua từ ngày đó không còn nhận được quyền nữa. Với cổ tức tiền mặt và cổ phiếu thưởng, điều chỉnh luôn theo hướng giảm. Với phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu, hướng điều chỉnh phụ thuộc giá phát hành so với thị giá, và phần lớn trường hợp cũng là giảm. Giữa giá đóng cửa phiên hôm trước và giá tham chiếu phiên không hưởng quyền có một bước nhảy hành chính. Không ai giao dịch ở khoảng giữa, vì khoảng giữa không tồn tại.
Trên chuỗi giá chưa điều chỉnh, bước nhảy đó hiện ra đúng như một khoảng trống giá, giống hệt hình dạng của một khoảng trống do thị trường tạo ra. Hai thứ khác nhau hoàn toàn về bản chất, giống hệt nhau trên hình.
Hậu quả với phép đếm cấu trúc thì rất trực tiếp: một đỉnh nằm sau ngày không hưởng quyền được so với một đỉnh nằm trước nó bằng hai con số không cùng gốc toạ độ. Chuỗi đỉnh có thể chuyển từ cao dần sang thấp dần mà không có gì xảy ra ở thị trường. Cũng vậy với mọi thứ đo bằng khoảng cách giữa hai mức giá: đỉnh và đáy lịch sử, đường kẻ nối các đáy cũ, lợi suất theo phiên.
Có một dấu hiệu kiểm chứng được. Vào đúng ngày đó, cột phần trăm thay đổi trên bảng giá không hề phản ánh cú rơi mà chuỗi thô ghi lại, vì cột thay đổi đo so với giá tham chiếu đã điều chỉnh còn cây nến trên chuỗi thô đo so với giá đóng cửa cũ. Giá trong phiên vẫn chạy tự do trong biên độ tính trên tham chiếu mới, nên cột thay đổi có thể là bất kỳ con số nào; điều chắc chắn là nó không chứa phần rơi do điều chỉnh quyền. Cả hai cách đo đều đúng theo định nghĩa của mình.
Ba câu phải hỏi trước khi diễn giải một khoảng trống giá
Một. Hôm đó có phải ngày giao dịch không hưởng quyền không? Bảng giá thường đánh dấu ngày này bằng một ký hiệu bên cạnh mã, và Sở giao dịch có công bố riêng nêu rõ mức điều chỉnh cho từng sự kiện.
Hai. Chuỗi giá đang xem là chuỗi thô hay chuỗi đã điều chỉnh? Hai chuỗi cho hai cấu trúc khác nhau trên cùng một mã.
Ba. Mức điều chỉnh lớn tới đâu? Ở Việt Nam, cổ tức bằng cổ phiếu và phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu là chuyện phổ biến, nên mức điều chỉnh có thể không nhỏ. Một tỷ lệ chia đủ để một người đang giữ 350 cổ phiếu nhận thêm 35 cổ phiếu thì cũng đủ để làm lệch mọi phép so sánh giá qua ngày đó.
Vì sao và điều chỉnh bao nhiêu là chủ đề riêng, không thuộc phạm vi bài này. Bài này chỉ nêu hiện tượng và hệ quả với cấu trúc.

Câu chốt: mọi khoảng trống giá ở Việt Nam phải đi qua một câu hỏi trước khi được diễn giải, và nếu đó là ngày không hưởng quyền thì khoảng trống là giả.
Chuỗi bị gãy vì luật, không vì thị trường
Phép đếm đỉnh đáy ngầm giả định mọi cây nến trong chuỗi là cùng một loại vật thể: cùng độ dài phiên, cùng phương thức khớp lệnh, cùng bộ quy tắc. Ở Việt Nam, giả định đó bị phá theo bốn cách.
Cách một: nến bị rút ngắn thời gian sinh ra nó. Cổ phiếu vào diện hạn chế giao dịch có thể bị cắt còn một buổi. Trên khung giờ HOSE, khớp lệnh liên tục bình thường kéo dài 225 phút mỗi ngày; chỉ giao dịch buổi chiều thì còn 90 phút, tức 40.0%. Cây nến vẫn có đủ bốn giá và vẫn vẽ ra hình dạng như cũ, nhưng đỉnh và đáy của nó được rút từ một cửa sổ nhỏ hơn 2.5 lần.
Cách hai: nến thoái hoá. Hình thức hạn chế nặng hơn là bỏ khớp lệnh liên tục, chỉ còn khớp lệnh định kỳ, tức số phút khớp lệnh liên tục về 0. Với một hoặc vài điểm khớp trong ngày, việc bốn giá của cây nến bằng nhau là kết cục bình thường về mặt cấu trúc. Chuỗi mất hẳn khả năng sinh ra đỉnh và đáy cục bộ.
Cách ba: chuỗi có lỗ. Hình thức gom toàn bộ giao dịch vào một phiên trong tuần khiến bốn trên năm ngày không sinh ra cây nến nào. Trên UPCoM, khớp lệnh liên tục bình thường là 270 phút mỗi ngày, tức 1,350 phút mỗi tuần năm ngày; gom về một phiên còn 270 phút, tức 20.0%. Trên đồ thị ngày, chuỗi hoặc bị thủng, hoặc bị phần mềm lấp bằng cách kéo ngang giá phiên gần nhất. Cách lấp đó chế ra những cây nến phẳng chưa từng tồn tại, và thuật toán đếm đỉnh đáy đếm cả chúng. Điều tương tự áp cho diện đình chỉ giao dịch, nơi lỗ thủng dài tuỳ ý.
Cách bốn: đổi sàn. Đây là cách có quy mô lớn nhất trong năm 2026. HNX đã ngừng nhận hồ sơ niêm yết cổ phiếu mới từ 01/07/2025, và toàn bộ cổ phiếu niêm yết trên HNX phải chuyển sang HOSE chậm nhất 31/12/2026. Khi một mã chuyển, toàn bộ cỗ máy sinh ra chuỗi giá đổi trong đúng một đêm:
| Thứ đổi | Trên HNX | Sau khi sang HOSE |
|---|---|---|
| Biên độ dao động | 10% | 7% |
| Bước giá | 100 đ ở mọi vùng giá | 10 đ, 50 đ hoặc 100 đ tuỳ vùng giá |
| Phiên định kỳ mở cửa | Không có | Có |
| Phiên PLO cuối ngày | Có | Không có |
| Chỉ số tham chiếu | HNX Index | VNINDEX |
Cùng một mã, cùng một đồ thị, hai chế độ nối liền nhau mà không có vạch phân cách nào. Chi tiết khác biệt giữa ba nơi giao dịch nằm trong HOSE, HNX và UPCoM khác nhau ở đâu, còn bản chất của các phiên định kỳ nằm trong các loại lệnh và khung giờ giao dịch.
Câu chốt: bất kỳ phép đếm nào chạy trên n phiên gần nhất mà chuỗi có lỗ hoặc có mốc đổi sàn thì đang chạy trên một tập vật thể không đồng nhất.
Lưới bước giá đặt sàn cho mọi ngưỡng
Đặc thù cuối cùng nhỏ nhất về hình thức nhưng chặn thẳng cách khai tham số bằng phần trăm.
Giá cổ phiếu không nhận mọi giá trị. Nó chỉ nhận các bội số của một bước giá, và bước giá khác nhau theo nơi giao dịch cùng vùng giá: HOSE dùng 10 đ dưới 10,000 đ, 50 đ từ 10,000 đ tới 49,950 đ, 100 đ từ 50,000 đ trở lên; HNX và UPCoM dùng 100 đ ở mọi vùng giá.
Quy con số ấy về tỷ lệ trên thị giá thì khác biệt hiện ra rất rõ:
| Vùng giá và nơi giao dịch | Bước giá | Một bước bằng bao nhiêu thị giá |
|---|---|---|
| HOSE, quanh 73,200 đ | 100 đ | 0.14% |
| HOSE, quanh 22,100 đ | 50 đ | 0.23% |
| HOSE, quanh 2,170 đ | 10 đ | 0.46% |
| HNX, quanh 15,800 đ | 100 đ | 0.63% |
| HNX hoặc UPCoM, quanh 8,000 đ | 100 đ | 1.25% |
Số liệu thị giá lấy từ phiên 28/08/2026, nguồn FinLens tổng hợp.
Hai hệ quả cho phép đếm cấu trúc.
Ngưỡng phần trăm nhỏ hơn một bước giá thì không lọc được gì. Quy tắc "chỉ tính là đỉnh mới khi cao hơn đỉnh cũ ít nhất 1%" nghe hợp lý ở một cổ phiếu HOSE giá cao, nơi 1% bằng khoảng bảy bước giá. Ở một cổ phiếu HNX quanh 8,000 đ, bước nhỏ nhất đã là 1.25%, nên mọi thay đổi giá khác không đều tự động vượt ngưỡng. Cùng một quy tắc, hai cổ phiếu, hai mức độ chặt chẽ hoàn toàn khác nhau.
Độ phân giải của chuỗi giá không cố định theo thời gian. Một cổ phiếu HOSE đi từ 9,950 đ lên 10,000 đ thì bước giá nhảy từ 10 đ lên 50 đ, tức từ 0.101% lên 0.50% thị giá, gấp gần năm lần chỉ vì giá vừa bước qua một ngưỡng biết trước. Trên đồ thị dài hạn của một mã đi qua vùng đó, độ mịn của chuỗi đổi giữa chừng. Và như bảng đổi sàn ở mục trước cho thấy, chuyển từ HNX sang HOSE cũng đổi luôn lưới giá.
Câu chốt: lưới bước giá quyết định độ phân giải nhỏ nhất mà chuỗi giá có thể ghi lại, và nó không giống nhau giữa các mã, giữa các vùng giá, hay giữa hai đoạn của cùng một mã.
Cách đọc này mất tác dụng khi nào
Phần này là phần quan trọng nhất của bài. Cấu trúc giá là một phép phân loại chuỗi số, và như mọi phép phân loại, nó có những đầu vào mà kết quả của nó vô nghĩa.
| Tình huống | Vì sao phép đếm mất tác dụng |
|---|---|
| Chuỗi giá chưa điều chỉnh quyền | Hai mức giá cách nhau một ngày không hưởng quyền không cùng gốc toạ độ, nên so cao thấp là so hai thứ khác đơn vị |
| Chuỗi có lỗ do diện hạn chế hoặc đình chỉ | Cửa sổ n phiên không phải n phiên thật, và những cây nến do phần mềm lấp vào chưa từng tồn tại |
| Mã vừa đổi sàn | Biên độ, bước giá và bản chất của giá mở cửa lẫn giá đóng cửa đều đổi, hai đoạn chuỗi thuộc hai chế độ |
| Đoạn có nhiều phiên trần hoặc sàn liên tiếp | Không có đỉnh đáy cục bộ nào được sinh ra trong khi giá đi rất xa, và một cú lệch bị đếm thành nhiều bước |
| Cổ phiếu giá thấp trên HNX hoặc UPCoM | Bước giá nhỏ nhất đã lớn hơn ngưỡng phần trăm thông thường, ngưỡng mất tác dụng lọc |
| Đoạn cuối chuỗi, tức n phiên gần nhất | Luôn luôn chưa phân loại được, vì định nghĩa đòi hỏi dữ liệu đi sau |
Còn một giới hạn nữa, thuộc loại khác và cần nói thẳng. Bài này không nêu bất kỳ con số nào về tần suất, độ tin cậy hay hiệu quả của việc phân loại cấu trúc, vì chưa có nghiên cứu công khai, kiểm chứng lại được, cho thị trường Việt Nam về chuyện đó. Khi một tài liệu nêu một tỷ lệ chính xác cho câu hỏi "cấu trúc này đúng bao nhiêu phần trăm số lần", câu hỏi đầu tiên nên hỏi là tỷ lệ ấy đo trên tập dữ liệu nào, với cửa sổ bao nhiêu phiên, chuỗi giá đã điều chỉnh quyền chưa, và có loại các mã bị gãy chuỗi ra không.
Câu chốt: cấu trúc giá mô tả một chuỗi số đã có, với một tham số do người đọc chọn, và nó không chứa mệnh đề nào về phiên tiếp theo.
Sáu câu hỏi trước khi gọi tên một xu hướng
Gộp lại thành một danh sách dùng được ngay.
- Mã này giao dịch ở đâu: HOSE, HNX hay UPCoM? Câu trả lời quyết định biên độ, bước giá và bản chất của giá mở cửa lẫn giá đóng cửa.
- Bước giá ở vùng giá này bằng bao nhiêu phần trăm thị giá? Đó là độ phân giải nhỏ nhất mà chuỗi ghi lại được.
- Cửa sổ đang dùng để nhận diện đỉnh và đáy là bao nhiêu phiên? Nêu kết luận thì phải nêu kèm con số này.
- Trong đoạn đang xét có ngày giao dịch không hưởng quyền nào không, và chuỗi này là chuỗi thô hay đã điều chỉnh?
- Mã này có đang hoặc từng ở diện xử lý nào không, và có mốc đổi sàn nào nằm trong đoạn không?
- Đoạn cuối chuỗi dài bao nhiêu phiên vẫn đang ở trạng thái chưa phân loại được?
Đọc tiếp gì
Bài này là phần thứ ba của chuỗi "Nền tảng đồ thị". Hai bài trước là đọc nến Nhật và khối lượng giao dịch nói gì. Hai bài sau đi thẳng từ chỗ bài này dừng lại: hỗ trợ và kháng cự bản chất là gì bàn về vùng giá thay vì đường kẻ, còn khung thời gian và tính nhất quán xử lý tình huống cùng một mã cho hai kết luận ngược nhau ở hai khung.
Ba bài nền tảng nên đọc kèm, vì mọi thứ trong bài này đều dựa vào chúng: đọc bảng giá chứng khoán cho biên độ, bước giá và giá tham chiếu; HOSE, HNX và UPCoM khác nhau ở đâu cho khác biệt giữa ba nơi giao dịch và lộ trình hợp nhất; diện cảnh báo, kiểm soát và hạn chế giao dịch cho các cách một chuỗi giá bị gãy. Và nếu định dùng cấu trúc giá để giao dịch thường xuyên hơn, chi phí thật của một giao dịch là bài phải đọc trước, vì mỗi lần phản ứng với một thay đổi cấu trúc đều tốn một khoản chắc chắn mất, trong khi thay đổi ấy thì chưa chắc.
Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán và không phải tư vấn đầu tư. Bài không nêu tên mã cổ phiếu nào để minh hoạ cấu trúc, và mọi con số dùng để minh hoạ phép đếm đỉnh đáy đều là số giả định. Số liệu thị trường trong bài gắn với phiên 28/08/2026, do FinLens tổng hợp; quy tắc giao dịch dẫn theo quy chế hiện hành của HOSE, HNX và VSDC, và bạn nên đối chiếu bản đang có hiệu lực khi cần con số chính xác. Kết quả quá khứ không bảo đảm cho kết quả tương lai.
Câu hỏi thường gặp
Xu hướng tăng được định nghĩa thế nào cho chặt chẽ?
Định nghĩa chặt nhất không dùng cảm giác cũng không dùng đường kẻ, mà dùng cấu trúc: một chuỗi giá được xếp vào trạng thái tăng khi các đỉnh cục bộ liên tiếp cao dần lên và các đáy cục bộ liên tiếp cũng cao dần lên. Nhưng định nghĩa đó chỉ hoàn chỉnh khi kèm quy tắc nhận diện đỉnh và đáy, tức một phiên phải cao hơn bao nhiêu phiên ở hai bên thì mới được tính là đỉnh. Không kèm quy tắc đó thì câu nói vẫn chưa có nội dung kiểm chứng được.
Vì sao hai người nhìn cùng một đồ thị lại gọi tên xu hướng khác nhau?
Vì họ đang dùng hai tham số khác nhau mà thường không ai nói ra. Số phiên dùng để xác nhận một đỉnh hay một đáy là lựa chọn của người phân tích, không phải thuộc tính của cổ phiếu. Cửa sổ hẹp cho nhiều đỉnh đáy và trạng thái đổi liên tục; cửa sổ rộng cho ít đỉnh đáy và trạng thái rất ổn định. Cùng một chuỗi giá, hai cửa sổ có thể cho hai phân loại ngược nhau mà không ai tính sai cả.
Vì sao xu hướng chỉ xác định được cho quá khứ?
Vì một phiên chỉ được coi là đỉnh khi đã có đủ số phiên ở phía sau nó để so sánh. Nếu quy tắc đòi 5 phiên mỗi bên thì đỉnh sớm nhất cũng chỉ xác nhận được sau 5 phiên. Độ trễ đó không phải khiếm khuyết của công cụ mà nằm ngay trong định nghĩa: muốn biết một điểm có phải đỉnh không thì phải nhìn thấy phần đi sau nó. Hệ quả là đoạn cuối của mọi đồ thị luôn ở trạng thái chưa phân loại được.
Khoảng trống giá trên đồ thị có phải lúc nào cũng do thị trường tạo ra không?
Không. Vào ngày giao dịch không hưởng quyền, Sở giao dịch điều chỉnh giá tham chiếu theo giá trị quyền, với cổ tức tiền mặt và cổ phiếu thưởng thì luôn là điều chỉnh giảm, và trên chuỗi giá chưa điều chỉnh thì bước nhảy hành chính đó hiện ra giống hệt một khoảng trống do thị trường tạo ra. Không có giao dịch nào diễn ra ở khoảng giữa. Vì vậy trước khi diễn giải bất kỳ khoảng trống nào cũng phải kiểm xem hôm đó có phải ngày giao dịch không hưởng quyền không, và chuỗi đang xem là chuỗi thô hay chuỗi đã điều chỉnh.
Việt Nam chưa có bán khống thì ảnh hưởng gì tới cấu trúc giá?
Ảnh hưởng ở chỗ hai chiều của cấu trúc không được sinh ra bởi cùng một tập người tham gia. Ở thị trường cơ sở Việt Nam, phía bán trong sổ lệnh gần như chỉ gồm người đang sở hữu cổ phiếu, còn người có quan điểm tiêu cực mà chưa sở hữu thì chỉ có cách đứng ngoài. Đồng thời không tồn tại lực mua đến từ việc đóng vị thế bán khống. Nghĩa là toàn bộ nhóm khái niệm xây quanh bán khống trong tài liệu nước ngoài không có đối tượng để áp ở đây.
Cập nhật lần cuối:
Đọc tiếp
Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.