Quy mô vị thế: tính từ mức rủi ro chấp nhận được
Đảo lại câu hỏi: không phải mua bao nhiêu tiền, mà chấp nhận mất tối đa bao nhiêu nếu sai. Từ đó ra một phép chia, và ba chỗ nó không quyết thay bạn.
FinLens32 phút đọc
Câu hỏi "mua mã này bao nhiêu tiền" nghe thì tự nhiên nhưng thật ra không có lời giải, vì nó thiếu mất một vế. Bao nhiêu tiền so với cái gì? So với số dư đang trống trong tài khoản, so với mức độ tin tưởng, hay so với thứ gì khác?
Bài này đề nghị thay vế còn thiếu bằng một thứ đo được: số tiền bạn chấp nhận mất nếu lệnh này sai. Chốt con số đó trước, phần còn lại là một phép chia. Cách nghĩ này đảo ngược thứ tự thông thường. Thông thường người ta chọn số tiền mua trước rồi mới xem lỗ tới đâu thì chịu không nổi. Ở đây thì ngược lại: chọn mức lỗ chịu được trước, số tiền mua là kết quả chứ không phải điểm xuất phát.
Đây là bài thứ hai của chuỗi "Định lượng rủi ro". Bài mở đầu chuỗi, rủi ro trong đầu tư nghĩa là gì, đã tách rủi ro làm hai thứ khác hẳn nhau, biến động giá thì còn có thể hồi lại còn mất vốn vĩnh viễn thì không, và chỉ khi tách xong mới đo được. Bài này lấy phần đo được đó làm đầu vào cho một quyết định rất cụ thể: gõ bao nhiêu cổ phiếu vào ô khối lượng.
Bài này không đưa ra tham số chuẩn
Mọi tỷ lệ phần trăm xuất hiện dưới đây, gồm tỷ lệ rủi ro mỗi lệnh, trần tỷ trọng mỗi mã và khoảng cách tới điểm thoát, đều là số giả định để phép tính có gì đó mà chạy. Chúng không phải mức được khuyến nghị và không phải chuẩn mực ngành. Việc chọn tham số nào là quyết định của riêng người đầu tư, bài viết chỉ trình bày cách tính cùng những đánh đổi đi kèm.

Vì sao câu hỏi "mua bao nhiêu tiền" không có lời giải
Thử hình dung hai người cùng bỏ 50,000,000 đ vào hai cổ phiếu khác nhau. Người thứ nhất định bụng giá giảm 5% thì bán. Người thứ hai không định gì cả, mua rồi để đó.
Hai vị thế bằng nhau về số tiền, nhưng phần vốn đang bị đặt vào thế nguy hiểm thì khác hẳn. Người thứ nhất đang đặt 2,500,000 đ lên bàn. Người thứ hai đang đặt tối đa cả 50,000,000 đ, vì không có mốc nào để dừng lại. Cùng một số tiền mua, mức rủi ro chênh nhau hai mươi lần.
Từ đó rút ra quan hệ nền tảng của toàn bài:
Rủi ro của một lệnh = Quy mô vị thế × Khoảng cách tới điểm thoát
Ba đại lượng, biết hai thì suy ra cái thứ ba. Cách nghĩ thông thường chọn quy mô trước rồi để rủi ro rơi vào đâu thì rơi. Cách nghĩ ngược lại chốt rủi ro trước, đo khoảng cách thoát, rồi tính ra quy mô. Ưu điểm của cách sau không nằm ở chỗ nó chính xác hơn, mà ở chỗ nó kiểm chứng được: bạn viết ra một con số trước khi bấm lệnh, và sau đó đối chiếu được với thực tế.
Điểm thoát ở đây hiểu là mức giá đã định trước mà tại đó bạn thừa nhận luận điểm mua đã sai và sẽ bán. Phép chia bên dưới lấy nó làm mẫu số, nên chừng nào chưa có nó thì chưa có số lượng để tính. Một mức giá nghĩ ra giữa lúc giá đang rơi không đóng được vai trò đó, vì nó phản ánh chỗ chịu hết nổi tại thời điểm ấy chứ không phải một mốc đã định từ trước. Việc chọn nó ở đâu là một bài toán riêng, nằm ở bài kế hoạch thoát lệnh cùng chuỗi này. Bài này giả định bạn đã có sẵn một mức giá thoát trong đầu.
Câu chốt: quy mô vị thế và khoảng cách tới điểm thoát là hai nửa của cùng một phép nhân, nên câu hỏi "mua bao nhiêu tiền" mà thiếu nửa kia thì chưa phải một câu hỏi hoàn chỉnh.
Tính bằng tay một lệnh
Lấy một trường hợp cụ thể, mọi con số dưới đây đều là giả định.
Danh mục 400,000,000 đ. Cổ phiếu đang giao dịch ở 20,000 đ. Bạn đã xác định nếu giá về 18,400 đ thì luận điểm mua không còn đúng nữa.
Bước 1: chốt số tiền chấp nhận mất. Khai bằng tỷ lệ trên tổng danh mục cho dễ giữ nhất quán qua các lệnh. Giả sử chọn 1%:
400,000,000 × 1% = 4,000,000 đ
Bước 2: đo khoảng cách tới điểm thoát. Tính bằng tiền trên một cổ phiếu, đây mới là thứ đi vào phép chia:
20,000 − 18,400 = 1,600 đ mỗi cổ phiếu
Quy ra tỷ lệ thì 1,600 chia 20,000 bằng 8.0%, con số này chỉ để hình dung.
Bước 3: chia.
4,000,000 ÷ 1,600 = 2,500 cổ phiếu
Kiểm ngược lại cho chắc: nắm 2,500 cổ phiếu, mỗi cổ phiếu mất 1,600 đ, tổng cộng 4,000,000 đ, đúng bằng số đã chốt ở bước 1.
Một chi tiết kỹ thuật không bỏ qua được: lô giao dịch chuẩn là bội số của 100 cổ phiếu, phần lẻ từ 1 tới 99 nằm ở một bảng riêng. Vì vậy kết quả phép chia phải quy về bội số của 100, và hướng quy về quyết định mức rủi ro thật: làm tròn xuống thì rủi ro nằm gọn trong mức đã chốt, làm tròn lên thì nó vượt ra ngoài mức đó. Ở đây 2,500 đã tròn lô nên không phải làm gì, nhưng nếu ra 3,333.3 thì 3,300 giữ nguyên ngân sách rủi ro còn 3,400 nới ngân sách đó rộng thêm. Chi tiết về lô chẵn và lô lẻ nằm ở bài các loại lệnh và khung giờ giao dịch.
Bước 4: xem vị thế này chiếm bao nhiêu danh mục.
2,500 × 20,000 = 50,000,000 đ, tức 12.5% danh mục
Bước 4 không phải thủ tục thừa. Nó tồn tại vì phép chia ở bước 3 hoàn toàn có thể trả về một con số lớn tới mức vô lý, và mục ngay sau đây cho thấy chuyện đó xảy ra khi nào.
Tổng quát hoá lại. Gọi V là vốn danh mục, r là tỷ lệ rủi ro cho một lệnh, P là giá vào, S là giá thoát dự kiến:
Số lượng = (V × r) ÷ (P − S)
Đọc kỹ dòng này sẽ thấy một điều đáng chú ý: không có biến nào biểu diễn mức độ tin tưởng. Không có chỗ cho triển vọng ngành, chất lượng ban lãnh đạo hay kỳ vọng lợi nhuận. Những thứ đó quyết định bạn có mua hay không, chúng không quyết định mua bao nhiêu.
Câu chốt: bốn bước trên biến một câu hỏi cảm tính thành một phép chia có đầu vào viết ra được trước khi đặt lệnh.
Bảng độ nhạy: chỉ đổi khoảng cách thoát
Giữ nguyên V bằng 400,000,000 đ, r bằng 1%, P bằng 20,000 đ, và chỉ đổi duy nhất khoảng cách tới điểm thoát. Cột số lượng đã làm tròn xuống bội số 100.
| Khoảng cách | Giá thoát | Khoảng cách mỗi cổ phiếu | Số lượng | Giá trị vị thế | Tỷ trọng danh mục | Rủi ro thật |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 2% | 19,600 đ | 400 đ | 10,000 | 200,000,000 đ | 50.0% | 1.00% |
| 4% | 19,200 đ | 800 đ | 5,000 | 100,000,000 đ | 25.0% | 1.00% |
| 6% | 18,800 đ | 1,200 đ | 3,300 | 66,000,000 đ | 16.5% | 0.99% |
| 8% | 18,400 đ | 1,600 đ | 2,500 | 50,000,000 đ | 12.5% | 1.00% |
| 10% | 18,000 đ | 2,000 đ | 2,000 | 40,000,000 đ | 10.0% | 1.00% |
| 15% | 17,000 đ | 3,000 đ | 1,300 | 26,000,000 đ | 6.5% | 0.98% |
| 20% | 16,000 đ | 4,000 đ | 1,000 | 20,000,000 đ | 5.0% | 1.00% |
| 25% | 15,000 đ | 5,000 đ | 800 | 16,000,000 đ | 4.0% | 1.00% |
Bảng này nói ba điều.
Thứ nhất, quan hệ là nghịch đảo chứ không phải giảm dần đều. Khoảng cách thoát đi từ 2% ra 25%, xa gấp 12.5 lần, thì số lượng rơi từ 10,000 xuống 800, đúng 12.5 lần. Không có gì bí ẩn ở đây: khoảng cách nằm dưới mẫu số.
Thứ hai, cột rủi ro thật gần như đứng yên. Dù giá trị vị thế thay đổi từ 200,000,000 đ xuống 16,000,000 đ, số tiền có thể mất vẫn xoay quanh 4,000,000 đ. Đó chính là mục đích của cả phép tính: quy mô thay đổi để giữ rủi ro cố định. Hai dòng lệch xuống 0.99% và 0.98% là do làm tròn lô xuống, nên rủi ro thật thấp hơn mức đã chốt chứ không cao hơn.
Thứ ba, dòng đầu tiên là một cảnh báo. Điểm thoát cách 2% cho ra vị thế 200,000,000 đ, tức một nửa danh mục nằm trong một mã duy nhất. Về số học thì rủi ro vẫn đúng 1%, nhưng con số 1% đó chỉ đúng khi bạn bán được ở 19,600 đ. Với cổ phiếu trên HOSE, biên độ dao động cho phép trong một phiên là 7% tính từ giá tham chiếu, tức giá được quyền đi hết 2% đó rồi còn đi tiếp rất xa trong cùng một phiên. Một phiên xấu bình thường đủ để đưa giá qua mức 19,600 đ từ lâu trước khi bạn kịp phản ứng. Đây là chỗ một ràng buộc thứ hai được đưa vào.
Ràng buộc thứ hai: trần tỷ trọng mỗi mã
Trần tỷ trọng là mức vốn tối đa được phép đặt vào một cổ phiếu duy nhất. Đây là tham số thứ hai bạn tự khai, gọi là w.
Làm bằng số trước. Giả sử chọn w bằng 10%. Mười phần trăm của 400,000,000 đ là 40,000,000 đ. Chia cho giá 20,000 đ được 2,000 cổ phiếu. Con số này không phụ thuộc chút nào vào việc điểm thoát đặt ở đâu.
Viết lại thành công thức:
Số lượng tối đa theo tỷ trọng = (V × w) ÷ P
Vậy là có hai con số cùng đòi quyền quyết định, một từ phép chia rủi ro và một từ trần tỷ trọng. Số lượng dùng được là số nhỏ hơn trong hai con số đó. Đối chiếu với bảng trên: bốn dòng đầu cho ra 10,000, 5,000, 3,300 và 2,500 cổ phiếu, đều lớn hơn 2,000 nên đều bị cắt xuống 2,000. Khi bị cắt như vậy thì rủi ro thật của lệnh nhỏ hơn 1% chứ không bằng 1%, vì vị thế đã bị trần chặn trước khi dùng hết ngân sách rủi ro.
Hai ràng buộc này đổi vai cho nhau tại đúng một chỗ. Gọi d là khoảng cách thoát tính theo tỷ lệ. Đặt hai vế bằng nhau rồi rút gọn thì giá P triệt tiêu, còn lại:
Hai ràng buộc chạm nhau khi d = r ÷ w
Thay số cho dễ tin: r bằng 1% chia cho w bằng 10% ra d bằng 10%. Đúng bằng dòng 10% của bảng, dòng duy nhất mà hai con số gặp nhau ở cùng mức 2,000. Điểm thoát gần hơn 10% thì trần tỷ trọng quyết định. Xa hơn 10% thì phép chia rủi ro quyết định.
Quan hệ này giải thích một hiện tượng hay gây bối rối. Nhiều người khai rủi ro 1% mỗi lệnh nhưng cộng lại thấy tổng rủi ro danh mục nhỏ hơn hẳn con số mình tưởng. Lý do đơn giản: phần lớn lệnh của họ bị trần tỷ trọng cắt trước và chưa bao giờ dùng hết ngân sách rủi ro.
Câu chốt: khoảng cách tới điểm thoát quyết định quy mô theo tỷ lệ nghịch, nhưng cần một ràng buộc thứ hai chặn lại, nếu không thì một điểm thoát rất gần sẽ hợp thức hoá việc dồn phần lớn danh mục vào một mã.
"Mua ít cho an toàn" là một suy nghĩ sai
Đây là hệ quả quan trọng nhất của quan hệ ba đại lượng ở đầu bài, và nó đi ngược trực giác của rất nhiều người.
Bốn tình huống dưới đây, vẫn trên danh mục 400,000,000 đ:
| Cách làm | Giá trị vị thế | Khoảng cách thoát | Số tiền rủi ro | Tỷ lệ danh mục |
|---|---|---|---|---|
| Mua nhiều, thoát gần | 100,000,000 đ | 4% | 4,000,000 đ | 1.00% |
| Mua vừa, thoát vừa | 50,000,000 đ | 8% | 4,000,000 đ | 1.00% |
| Mua ít, thoát xa | 20,000,000 đ | 20% | 4,000,000 đ | 1.00% |
| Mua rất ít, không có điểm thoát | 10,000,000 đ | tối đa 100% | 10,000,000 đ | 2.50% |
Ba dòng đầu có quy mô chênh nhau năm lần nhưng rủi ro y hệt nhau. Dòng cuối mới là chỗ đáng nhìn: vị thế nhỏ nhất bảng, chỉ bằng một phần mười dòng đầu, lại mang rủi ro lớn nhất bảng, gấp 2.5 lần. Lý do nằm ở chỗ khi không có điểm thoát thì khoảng cách trong công thức mặc định là toàn bộ giá trị vị thế.
Câu "tôi mua ít cho an toàn" vì vậy chưa nói được gì cả. Nó mới nói một nửa của phép nhân. Nửa còn lại là bạn định chịu đựng tới đâu, và nếu nửa đó bỏ trống thì con số nhỏ ở nửa đầu không cứu được gì. Một vị thế nhỏ không có kế hoạch thoát vẫn hoàn toàn có thể là vị thế rủi ro nhất trong danh mục.
Chiều ngược lại cũng dễ bị hiểu nhầm y như vậy. Một vị thế lớn kèm điểm thoát rất gần không tự động an toàn hơn. Bảng độ nhạy phía trên đã chỉ ra hai lý do: điểm thoát càng gần thì càng dễ bị chạm bởi dao động thông thường, và mức vốn dồn vào một mã thì lại càng cao.
Câu chốt: quy mô đứng một mình không nói được gì về rủi ro, phải nhân nó với khoảng cách tới điểm thoát mới ra một con số có nghĩa.

Phí và thuế làm mọi vị thế nhỏ đi
Phép chia phía trên chỉ đếm phần lỗ do giá, coi như mua bán không mất đồng nào. Thực tế một vòng mua bán kéo theo ba khoản: phí môi giới lệnh mua, phí môi giới lệnh bán, và thuế thu nhập cá nhân 0.1% tính trên giá trị bán chứ không tính trên lãi. Khoản thuế này phải nộp cả khi bán lỗ, vì mẫu số của nó là số tiền bán được chứ không phải khoản lãi. Chi tiết đầy đủ nằm ở bài chi phí thật của một giao dịch.
Lấy lại vị thế 2,500 cổ phiếu ở ví dụ đầu, với mức phí môi giới giả định 0.15% mỗi chiều:
| Khoản mục | Cách tính | Số tiền |
|---|---|---|
| Lỗ do giá | 2,500 × 1,600 | 4,000,000 đ |
| Phí lệnh mua | 50,000,000 × 0.15% | 75,000 đ |
| Phí lệnh bán | 46,000,000 × 0.15% | 69,000 đ |
| Thuế trên giá trị bán | 46,000,000 × 0.1% | 46,000 đ |
| Tổng thiệt hại | 4,190,000 đ |
Số mất thật là 4,190,000 đ, tức 1.05% danh mục chứ không phải 1.00% như đã chốt. Vượt 4.75% so với dự tính, tính theo giá trị tương đối.
Muốn tổng thiệt hại đúng bằng ngân sách thì chi phí phải được nhét vào mẫu số. Gọi f là phí môi giới mỗi chiều và t là thuế suất trên giá trị bán:
Mẫu số đầy đủ = (P − S) + P × f + S × (f + t)
Ba số hạng lần lượt là lỗ do giá, phí của lệnh mua, và phần phí cộng thuế của lệnh bán, tất cả quy về một cổ phiếu. Áp vào các khoảng cách khác nhau:
| Khoảng cách | Mẫu số thô | Mẫu số đầy đủ | Số lượng thô | Số lượng đủ | Vị thế co lại | Chi phí so với lỗ do giá |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 2% | 400.00 đ | 479.00 đ | 10,000.0 | 8,350.7 | 16.49% | 19.75% |
| 4% | 800.00 đ | 878.00 đ | 5,000.0 | 4,555.8 | 8.88% | 9.75% |
| 8% | 1,600.00 đ | 1,676.00 đ | 2,500.0 | 2,386.6 | 4.53% | 4.75% |
| 10% | 2,000.00 đ | 2,075.00 đ | 2,000.0 | 1,927.7 | 3.61% | 3.75% |
| 20% | 4,000.00 đ | 4,070.00 đ | 1,000.0 | 982.8 | 1.72% | 1.75% |
Hai cột cuối là phần đáng học. Chi phí không tác động đều: điểm thoát càng gần thì chi phí càng chiếm phần lớn trong tổng thiệt hại. Ở khoảng cách 2%, riêng phí và thuế đã bằng gần một phần năm phần lỗ do giá. Ở khoảng cách 20%, tỷ lệ đó chỉ còn 1.75%.
Còn một yếu tố nữa đến từ bước giá, tức mức nhảy tối thiểu của giá trên sàn. Trên HOSE, cổ phiếu từ 10,000 đ tới 49,950 đ nhảy từng 50 đ. Ở mức giá 20,000 đ, một bước giá bằng 0.25%. Muốn bán được ngay thường phải chấp nhận đặt thấp hơn ít nhất một bước, nên giá thoát thực tế hay thấp hơn giá thoát dự kiến một chút. Với điểm thoát cách 2%, riêng một bước giá đã ăn 12.5% khoảng cách đó.
Câu chốt: chi phí không đổi hướng của phép tính, nó chỉ làm mọi vị thế nhỏ đi, và nhỏ đi nhiều nhất đúng ở chỗ nhiều người tưởng là an toàn nhất.
Tỷ lệ rủi ro mỗi lệnh: quy ước phổ biến, không phải chuẩn mực
Tài liệu về giao dịch thường nhắc tới các mức 0.5%, 1% hay 2% vốn cho một lệnh. Cần nói thẳng ba điều về những con số đó.
Chúng là quy ước lan truyền trong giới thực hành, không phải chuẩn mực do cơ quan nào ban hành. Không có cơ sở lý thuyết nào bắt buộc phải chọn đúng những mức đó. Cũng không có bằng chứng nào cho thấy một mức cụ thể phù hợp với mọi người. Chúng phổ biến chủ yếu vì dễ nhớ.
Thứ thật sự hữu ích không phải bản thân con số, mà là hệ quả của từng mức. Hệ quả đó tính được, và đây là chỗ số học nói rõ hơn mọi lời khuyên.
Đi chậm qua một trường hợp trước. Chọn tỷ lệ rủi ro 2%, và giả sử mỗi lệnh sai đều mất đúng 2% vốn đang có tại thời điểm đó, chứ không phải 2% vốn ban đầu. Sau lệnh thua thứ nhất còn 98% vốn. Sau lệnh thứ hai còn 98% của 98%, tức 96.04%. Sau lệnh thứ ba còn 94.12%. Mỗi lệnh thua thêm là nhân thêm một lần 0.98 nữa.
Tổng quát hoá: vốn còn lại sau n lệnh thua liên tiếp bằng (1 − r) lũy thừa n. Bảng dưới ghi phần đã mất đi tương ứng:
| Tỷ lệ rủi ro mỗi lệnh | 5 lệnh thua | 10 lệnh thua | 15 lệnh thua | 20 lệnh thua |
|---|---|---|---|---|
| 0.5% | −2.48% | −4.89% | −7.24% | −9.54% |
| 1% | −4.90% | −9.56% | −13.99% | −18.21% |
| 2% | −9.61% | −18.29% | −26.14% | −33.24% |
| 3% | −14.13% | −26.26% | −36.67% | −45.62% |
| 5% | −22.62% | −40.13% | −53.67% | −64.15% |
Đọc theo cột dọc: một chuỗi 10 lệnh thua liên tiếp lấy đi 4.89% vốn ở mức rủi ro 0.5%, và lấy đi 40.13% vốn ở mức 5%. Cùng một chuỗi lệnh sai, cùng một người, chỉ khác một tham số khai lúc đầu, mà hậu quả chênh nhau hơn tám lần.
Cột cuối còn nói thêm một điều nữa khi ghép với phần lãi cần có để về lại vốn cũ:
| Tỷ lệ rủi ro mỗi lệnh | Sụt giảm sau 20 lệnh thua | Mức lãi cần có để hoà vốn |
|---|---|---|
| 0.5% | −9.54% | +10.54% |
| 1% | −18.21% | +22.26% |
| 2% | −33.24% | +49.79% |
| 3% | −45.62% | +83.89% |
| 5% | −64.15% | +178.95% |
Cột phải phồng lên nhanh hơn hẳn cột trái vì mẫu số đã nhỏ đi sau khi lỗ. Cơ chế bất đối xứng này được trình bày kỹ ở bài sụt giảm tối đa và thời gian hồi phục trong cùng chuỗi. Ở đây chỉ cần rút ra một ý: chọn r lớn không chỉ làm cái hố sâu hơn, nó còn làm con dốc leo ra khỏi hố dựng đứng hơn.
Chuỗi thua dài tới đâu là chuyện tính được
Phản xạ thường gặp khi nhìn cột "20 lệnh thua" là nghĩ rằng nó phi thực tế. Thử kiểm bằng một phép đếm đơn giản.
Coi mỗi lệnh như một lần tung đồng xu độc lập với xác suất thua p, rồi hỏi trong N lệnh có bao nhiêu khả năng gặp ít nhất một chuỗi thua liên tiếp dài từ k lệnh trở lên:
| Xác suất thua mỗi lệnh | Số lệnh | Gặp chuỗi thua từ 5 lệnh | Từ 8 lệnh | Từ 10 lệnh |
|---|---|---|---|---|
| 40% | 100 | 45.9% | 3.6% | 0.6% |
| 50% | 100 | 81.0% | 17.0% | 4.4% |
| 60% | 100 | 97.6% | 49.0% | 20.5% |
Với người giao dịch khoảng một trăm lệnh và thua khoảng một nửa số lệnh, một chuỗi năm lệnh thua liên tiếp gần như chắc chắn xuất hiện ở đâu đó, và một chuỗi tám lệnh cũng không phải chuyện hiếm.
Hai chỗ phải nói rõ về bảng này. Nó giả định các lệnh độc lập với nhau, còn thị trường thật thì không: các lệnh sai có xu hướng dồn cục vào cùng một giai đoạn, nên chuỗi thua thật thường dài hơn phép đếm đồng xu. Và nó không nói xác suất thua của bạn là bao nhiêu, con số đó không ai biết trước được. Bảng chỉ dùng để bác bỏ ý nghĩ rằng chuỗi thua dài là chuyện xa vời.
Câu chốt: không có mức rủi ro mỗi lệnh nào đúng cho mọi người, nhưng hệ quả của từng mức thì tính ra được, và đó mới là thứ dùng được để chọn.

Rủi ro tổng danh mục: cộng dồn, và cộng không đơn giản
Phép chia ở trên giới hạn một lệnh. Danh mục là nhiều lệnh cùng mở, và ở cấp danh mục xuất hiện một hiệu ứng mà phép chia không nhìn thấy: các vị thế có thể cùng sai một lúc.
Cách cộng thô nhất là cộng thẳng. Sáu vị thế, mỗi vị thế khai rủi ro 1%, thì trường hợp tất cả cùng chạm điểm thoát trong một quãng ngắn làm danh mục mất 6%. Con số này không phải chuyện lý thuyết: trong những phiên thị trường giảm mạnh trên diện rộng, nhiều mã cùng đi xuống một chiều là hình ảnh bình thường.
Nhưng cộng thẳng cũng là cách nói quá, vì không phải lúc nào mọi lệnh cũng sai cùng lúc. Phần cộng gộp thật nằm giữa hai cực, và cái quyết định nó nằm ở đâu chính là tương quan giữa các mã.
Hệ số tương quan là một con số nằm trong khoảng từ −1 tới +1, đo mức độ hai chuỗi lợi suất đi cùng chiều với nhau. Bằng +1 nghĩa là hai mã luôn lên xuống cùng lúc theo một tỷ lệ cố định. Bằng 0 nghĩa là biết mã này hôm nay tăng cũng không suy ra được gì về mã kia. Một điều phải nói ngay: mọi hệ số tương quan đều được tính trên dữ liệu quá khứ, nên nó mô tả các mã đã đi cùng nhau ra sao trong một quãng thời gian đã chọn, không phải chúng sẽ đi cùng nhau ra sao.
Thấy bằng số trước. Ba vị thế, mỗi vị thế khai rủi ro 1%. Nếu ba mã hoàn toàn không liên quan tới nhau thì phần dao động gộp không phải 3% mà là căn bậc hai của 3, tức 1.73%. Nếu ba mã giống hệt nhau thì gộp lại đúng bằng 3%. Ba mã thật gần như luôn nằm đâu đó ở giữa hai con số này.
Viết thành công thức. Coi mỗi vị thế như một nguồn dao động cùng độ lớn r, và mọi cặp có cùng hệ số tương quan ρ, thì mức dao động gộp của k vị thế bằng:
r × căn bậc hai của [k + k × (k − 1) × ρ]
Thay số với r bằng 1%:
| Số vị thế | Tương quan 0 | Tương quan 0.3 | Tương quan 0.6 | Tương quan 1.0 | Cộng thẳng |
|---|---|---|---|---|---|
| 3 | 1.73% | 2.19% | 2.57% | 3.00% | 3% |
| 6 | 2.45% | 3.87% | 4.90% | 6.00% | 6% |
| 10 | 3.16% | 6.08% | 8.00% | 10.00% | 10% |
Đọc theo hàng ngang của dòng 10 vị thế: nếu các mã hoàn toàn không liên quan tới nhau thì phần rủi ro gộp chỉ 3.16%, tức chưa tới một phần ba tổng cộng thẳng. Nhưng khi tương quan lên 0.6 thì con số đã là 8.00%, gần sát mức cộng thẳng. Nói cách khác, lợi ích của việc chia vốn ra nhiều mã phụ thuộc vào mức độ khác nhau giữa các mã đó, chứ không phụ thuộc vào số lượng mã.
Ba điều cần nhớ khi dùng bảng này.
Một, nó minh hoạ cơ chế chứ không phải công thức để tính ra số tiền. Đại lượng r trong phép chia quy mô vị thế là mức lỗ tối đa đã chốt, còn công thức căn bậc hai vốn dùng cho độ dao động. Bảng chỉ nhằm cho thấy đường cong nằm giữa hai cực đi như thế nào khi tương quan thay đổi.
Hai, tương quan không cố định, và cột "tương quan 0" thì không tồn tại trên thực tế. Đây là chỗ hiểm nhất của cả bảng, và nó có hai vế.
Vế thứ nhất: hệ số tương quan đo được trong giai đoạn thị trường bình thường có xu hướng tăng mạnh đúng vào những phiên căng thẳng. Nghĩa là bảng trên trượt sang phải đúng lúc bạn cần nó ở phía trái nhất.
Vế thứ hai: một danh mục chỉ gồm cổ phiếu không bao giờ chạm được cột tương quan 0, vì mọi cổ phiếu đều chịu chung những thứ tác động lên toàn thị trường. Chia vốn ra nhiều mã chỉ làm mờ đi phần rủi ro riêng của từng doanh nghiệp. Nó không xoá được phần rủi ro chung đó, nên tổng rủi ro có một mức sàn mà việc thêm mã không đưa xuống dưới được. Cả hai vế được đo bằng số liệu cụ thể ở bài đa dạng hoá và tương quan.
Ba, số mã không bằng số nguồn rủi ro. Mười mã cùng một ngành, cùng phụ thuộc một mặt hàng đầu vào, hoặc cùng nhạy với lãi suất, thực chất là một vị thế được chia làm mười. Đếm theo nguồn rủi ro vì vậy cho ra con số sát thực tế hơn đếm theo mã.
Đi ngược từ trần tổng xuống từng lệnh
Nếu muốn kiểm soát ở cấp danh mục, cách làm là đặt thêm một trần cho tổng rủi ro đang mở rồi chia ngược ra. Gọi R là trần đó:
Tỷ lệ rủi ro mỗi lệnh = R ÷ Số vị thế mở cùng lúc
| Trần tổng rủi ro đang mở | 2 vị thế | 3 vị thế | 4 vị thế | 6 vị thế | 8 vị thế | 12 vị thế |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 3% | 1.50% | 1.00% | 0.75% | 0.50% | 0.38% | 0.25% |
| 6% | 3.00% | 2.00% | 1.50% | 1.00% | 0.75% | 0.50% |
Bảng này bày ra một đánh đổi mà nhiều người chưa từng nhìn thẳng: giữ nhiều mã và giữ rủi ro cao cho từng mã là hai thứ không thể có cùng lúc, trừ khi chấp nhận nâng trần tổng lên. Muốn mở mười hai vị thế mà vẫn giữ tổng rủi ro ở 3% thì mỗi lệnh chỉ được 0.25%, và ở mức đó nhiều lệnh sẽ nhỏ tới nỗi chi phí giao dịch chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thiệt hại, đúng như bảng chi phí phía trên đã cho thấy.
Cả R lẫn số vị thế đều là tham số cá nhân. Bảng chỉ cho biết chọn cái này thì cái kia phải theo, nó không nói nên chọn dòng nào.
Câu chốt: tính đúng quy mô từng lệnh chưa kiểm soát được cả danh mục, vì mức cộng dồn phụ thuộc vào các mã giống nhau tới đâu chứ không phụ thuộc vào việc từng lệnh đã được tính cẩn thận.

Ba chỗ phép chia này không đúng
Để sòng phẳng, đây là những chỗ kết quả tính ra không còn giữ được.
Điểm thoát không phải lúc nào cũng thực hiện được. Toàn bộ phép tính đứng trên một giả định duy nhất: bạn bán được đúng ở mức giá đã định. Giả định đó hỏng trong bốn tình huống.
- Giá mở cửa nhảy thẳng qua điểm thoát. Khoảng ở giữa không có giao dịch nào, nên đơn giản là không tồn tại mức giá đó để mà bán.
- Cổ phiếu nằm giá sàn nhiều phiên liền vì không còn bên mua. Lệnh bán vẫn đặt được nhưng nằm chờ mà không khớp.
- Mã bị hạn chế hoặc đình chỉ giao dịch, tức không được bán trong những phiên đó.
- Vị thế lớn tới mức phải bán nhiều phiên mới hết, và chính hành động bán đẩy giá xuống thấp hơn.
Vì vậy con số rủi ro tính ra nên hiểu là mức sàn của thiệt hại chứ không phải mức trần. Các trạng thái làm một cổ phiếu mất khả năng thoát ra được liệt kê ở bài diện cảnh báo, kiểm soát và hạn chế giao dịch.
Nó không nói cổ phiếu nào đáng mua. Quy mô vị thế là bài toán đứng sau quyết định mua, không thay thế quyết định đó. Tính đúng quy mô cho một lựa chọn sai vẫn ra một khoản lỗ, chỉ khác ở chỗ khoản lỗ đó có kích thước biết trước.
Nó không tạo ra lợi nhuận. Quản trị rủi ro giới hạn mức mất tối đa trong điều kiện thị trường vận hành bình thường. Nó không làm tăng xác suất đúng của một lệnh, không bảo đảm tránh được thua lỗ, và không hứa mức sinh lời nào. Đây là hai việc khác hẳn nhau và không nên trộn vào nhau.
Câu chốt: phép chia này cho biết một lệnh sai tốn khoảng bao nhiêu khi thị trường vẫn còn giao dịch được, nó không nói lệnh đó đúng hay sai và không làm cho nó dễ đúng hơn.
Chọn tham số là việc của bạn
Bài này đưa ra ba tham số phải tự khai: tỷ lệ rủi ro mỗi lệnh, trần tỷ trọng mỗi mã, và trần tổng rủi ro đang mở. Không tham số nào trong đó được quyết định thay bạn, ở đây hay ở bất kỳ tài liệu nào khác, vì thứ quyết định chúng nằm ngoài phạm vi mọi bài viết:
- Khung thời gian đầu tư của bạn: quãng đường còn lại để hồi phục sau một chuỗi lệnh sai dài bao nhiêu.
- Mức ổn định của thu nhập ngoài thị trường: có nguồn bù đắp hay không, và có khả năng bị buộc phải rút vốn ra đúng lúc giá thấp hay không.
- Ngưỡng chịu đựng thật của chính bạn: mức sụt giảm mà bạn vẫn giữ được kế hoạch, chứ không phải mức bạn nghĩ mình chịu được trong lúc đang lãi.
- Mục tiêu và ràng buộc riêng: khoản tiền này dùng cho việc gì, và khi nào cần tới.
Việc bài này làm được chỉ có một: bày ra hệ quả số học của từng lựa chọn, để bạn thấy trước cái giá của nó thay vì phát hiện ra sau. Chọn mức nào là quyết định cá nhân của người đọc, và bài viết không quyết thay được.
Có một thói quen nhỏ giúp việc chọn bớt cảm tính theo thời gian: sau mỗi lệnh đã đóng, ghi lại ba con số gồm rủi ro đã tính lúc đặt lệnh, khoản lãi hoặc lỗ thật, và mức giá thoát thật so với mức dự kiến. Sau vài chục lệnh, chênh lệch giữa cột thứ nhất và cột thứ ba cho biết công thức của bạn đang lệch bao nhiêu trong điều kiện thật. Đó là thông tin không tài liệu nào cung cấp thay bạn được.
Câu chốt: tham số phù hợp không tìm được bằng cách đọc, nó chỉ lộ ra khi bạn đối chiếu con số đã tính trước với kết quả thật của chính mình qua nhiều lệnh.
Đọc tiếp gì
Bài này giả định đã có sẵn một điểm thoát. Việc chọn điểm thoát đó ở đâu, và vì sao một mức cắt lỗ theo phần trăm cố định thường không khớp với mức dao động riêng của từng mã, nằm ở bài kế hoạch thoát lệnh. Phần đo mức sụt giảm và thời gian hồi phục của cả danh mục nằm ở bài sụt giảm tối đa và thời gian hồi phục, còn phần đo mức độ giống nhau giữa các mã nằm ở bài đa dạng hoá và tương quan.
Hai bài nền tảng liên quan trực tiếp tới các phép tính ở đây: chi phí thật của một giao dịch để biết chính xác những khoản nào phải nhét vào mẫu số, và đọc bảng giá chứng khoán để đọc được trần, sàn và bước giá ngay trên màn hình trước khi đặt điểm thoát. Sự khác nhau về biên độ giữa ba nơi giao dịch, thứ quyết định khoảng nhảy giá tối đa trong một phiên, nằm ở HOSE, HNX và UPCoM khác nhau ở đâu.
Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức về phương pháp tính toán, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán và không phải tư vấn đầu tư. Mọi tỷ lệ rủi ro, tỷ trọng, khoảng cách thoát và mức giá dùng trong bài đều là số giả định để minh hoạ cách tính. Mức phí môi giới 0.15% mỗi chiều là mức giả định, không phải mức thu của bất kỳ đơn vị nào; mức thuế thu nhập cá nhân 0.1% trên giá trị bán cùng các quy định về lô giao dịch, bước giá và biên độ lấy theo văn bản pháp quy và quy chế giao dịch hiện hành, do FinLens tổng hợp. Các bảng xác suất và tương quan là phép tính trên mô hình giả định, không phải thống kê thị trường và không phải dự báo.
Câu hỏi thường gặp
Quy mô vị thế được tính bằng công thức nào?
Lấy số tiền chấp nhận mất nếu lệnh sai chia cho khoảng cách từ giá vào tới điểm thoát, tính trên một cổ phiếu. Ví dụ chấp nhận mất 4,000,000 đ, mua ở 20,000 đ và đặt điểm thoát ở 18,400 đ thì khoảng cách là 1,600 đ mỗi cổ phiếu, số lượng bằng 4,000,000 chia 1,600 bằng 2,500 cổ phiếu. Sau đó làm tròn xuống bội số của 100 cho đúng lô chẵn.
Vì sao điểm thoát càng gần thì vị thế lại càng lớn?
Vì khoảng cách tới điểm thoát nằm ở mẫu số. Cùng một số tiền chấp nhận mất, mẫu số nhỏ đi thì thương số lớn lên. Nói bằng lời thường: mỗi cổ phiếu chỉ còn gánh phần lỗ nhỏ, nên phải nắm nhiều cổ phiếu hơn thì tổng lỗ mới bằng mức đã chốt. Điều này cũng có nghĩa điểm thoát quá sát dễ đẩy vị thế lên mức tập trung vốn rất cao, nên phép chia này thường đi kèm một trần tỷ trọng để kiểm lại.
Tỷ lệ rủi ro bao nhiêu phần trăm mỗi lệnh là đúng?
Không có con số đúng chung cho mọi người. Đây là tham số phải tự chọn và nó là đánh đổi hai chiều: đặt thấp thì một chuỗi lệnh thua bào mòn vốn chậm hơn nhưng phần lãi khi đúng cũng nhỏ đi, đặt cao thì ngược lại. Mức phù hợp phụ thuộc vào khung thời gian đầu tư, mức ổn định của thu nhập ngoài thị trường và mức thua lỗ chịu được mà không đổi kế hoạch giữa chừng, những thứ một bài viết không thể biết.
Phí giao dịch và thuế ảnh hưởng thế nào tới quy mô vị thế?
Chúng cộng thêm vào phần thiệt hại nên phải nằm trong mẫu số, và vị thế tính đúng sẽ nhỏ hơn vị thế tính thô. Mức ảnh hưởng phụ thuộc khoảng cách thoát: với phí giả định 0.15% mỗi chiều cộng thuế 0.1% trên giá trị bán, điểm thoát cách 2% làm vị thế co lại 16.49%, còn điểm thoát cách 20% chỉ làm nó co 1.72%.
Tính đúng quy mô vị thế thì rủi ro của cả danh mục có được kiểm soát không?
Không tự động. Phép chia chỉ giới hạn một lệnh. Nhiều vị thế mở cùng lúc thì rủi ro cộng dồn, và cộng dồn không đơn giản vì các mã tương quan với nhau: trong phiên thị trường căng thẳng, những thứ tưởng độc lập lại cùng giảm một lúc. Muốn kiểm soát ở cấp danh mục thì phải đặt thêm một trần cho tổng rủi ro đang mở, rồi chia ngược ra từng lệnh.
Cập nhật lần cuối:
Đọc tiếp
Nội dung trong bài mang tính chia sẻ kiến thức, không phải khuyến nghị mua bán. Mọi quyết định đầu tư và rủi ro đi kèm thuộc về người đọc.